CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VỀ PHÁT HIỆN VÀ PHÒNG CHỐNG XÂM NHẬP MẠNG I. Khái niệm IDS/IPS IDS – Intrusion Detection System (Hệ thống phát hiện xâm nhập) là hệ thống phần cứng hoặc phần mềm có chức n\ng tự động theo d]i các sự kiện xảy ra trên hệ thống máy tính, phân tích để phát hiện ra các vấn đề liên quan đến an ninh, bảo mật. Khi một hệ thống IDS có khả n\ng ng\n chặn các nguy cơ xâm nhập mà nó phát hiện được thì nó được gọi là một hệ thống phòng chống xâm nhập hay IPS.
Các vị trí thường cài đặt IDS trong mạng: Ngày nay công nghệ IDS đã dần được thay thế bằng các giải pháp IPS. Ta có thể hiểu đơn giản IDS chỉ là một cái chuông để cảnh báo cho người quản trị biết những nguy cơ có thể xảy ra tấn công đây là một giải pháp giám sát thụ động, tức là chỉ có thể cảnh báo, việc thực hiện ng\n chặn các cuộc tấn công vào hệ thống lại hoàn toàn phụ thuộc vào người quản trị. Vì vậy yêu cầu rất cao đối với nhà quản trị trong việc xác định các lưu lượng cần và các lưu lượng bất thường có nghi vấn là dấu hiệu của một cuộc tấn công, công việc này thì trở nên hết sức khó kh\n. 7 An ninh mạng Nhóm 08.
Đề tài 17 Với IPS, người quản trị không những có thể xác định được các lưu lượng khả nghi khi có dấu hiệu tấn công mà còn giảm thiểu được khả n\ng xác định sai các lưu lượng. Với IPS, các cuộc tấn công sb bị loại bc ngay khi mới có dấu hiệu và nó hoạt động tuân theo một quy luật do nhà Quản trị định sen. IDS hiện nay chỉ sử dụng từ một đến 2 cơ chế để phát hiện tấn công phát hiện sự lạm dụng, phát hiện sự bất thường. Vì mgi cuộc tấn công lại có các cơ chế khác nhau của nó, vì vậy cần có các cơ chế khác nhau để phân biệt.
Với IDS, do số lượng cơ chế là ít nên có thể dhn đến tình trạng không phát hiện ra được các cuộc tấn công với cơ chế không định sen, dhn đến khả n\ng các cuộc tấn công sb thành công, gây ảnh hưởng đến hệ thống. Thêm vào đó, do các cơ chế của IDS là tổng quát, dhn đến tình trạng báo cáo nhầm, cảnh báo nhầm, làm tốn thời gian và công sức của nhà quản trị. Với IPS thì được xây dựng trên rất nhiều cơ chế tấn công và hoàn toàn có thể tạo mới các cơ chế phù hợp với các dạng thức tấn công mới nên sb giảm thiểu được khả n\ng tấn công của mạng, thêm đó, độ chính xác của IPS là cao hơn so với IDS. Với IDS, việc đáp ứng lại các cuộc tấn công chỉ có thể xuất hiện sau khi gói tin của cuộc tấn công đã đi tới đích, lúc đó việc chống lại tấn công là việc nó gửi các yêu cầu đến các máy của hệ thống để xoá các kết nối đến máy tấn công và máy chủ, hoặc là gửi thông tin thông báo đên tường lửa ( Firewall) để tường lửa thực hiện chức n\ng của nó, tuy nhiên, việc làm này đôi khi lại gây tác động phụ đến hệ thống.
Ví dụ: như nếu Attacker giả mạo (sniffer) của một đối tác, hay là khách hàng, để tạo một cuộc tấn công từ chối dịch vụ thì có thể thấy rằng, mặc dù IDS có thể chặn được cuộc tấn công từ chối dịch vụ nhưng nó clng sb Block luôn cả IP của khách hàng, đối tác, như vậy thiệt hại vhn tnn tại và coi như hiệu ứng phụ của DoS thành 8 An ninh mạng Nhóm 08. Đề tài 17 công mặc dù cuộc tấn công từ chối dịch vụ thất bại. Nhưng với IPS thì khác nó sb phát hiện ngay từ đầu dấu hiệu của cuộc tấn công và sau đó là khoá ngay các lưu lượng mạng này thì mới có khả n\ng giảm thiểu được các cuộc tấn công. Như vây các hệ thống IDS được thiết kế với mục đích chủ yếu là phát hiện và cảnh báo các nguy cơ xâm nhập đối với mạng máy tính nó đang bảo vệ trong khi đó, một hệ thống IPS ngoài khả n\ng phát hiện còn có thể tự hành động chống lại các nguy cơ theo các quy định được người quản trị thiết lập sen.
Chức năng của IDS/IPS Chức n\ng quan trọng nhất của IDS là: giám sát – cảnh báo – bảo vệ Giám sát: lưu lượng mạng và các hoạt động khả nghi. Cảnh báo: báo cáo về tình trạng mạng cho hệ thống và nhà quản trị. Bảo vệ: dùng những thiết lập mặc định và sự cấu hình từ nhà quản trị mà có những hành động thiết thực chống lại kẻ xâm nhập và phá hoại. Phát hiện: những dấu hiệu bất thường dựa trên những gì đã biết hoặc nhờ vào sự so sánh thông lượng mạng hiện tại với baseline.
Ngoài ra hệ thống phát hiện xâm nhập IDS còn có chức n\ng: Ng\n chặn sự gia t\ng của những tấn công Bổ sung những điểm yếu mà các hệ thống khác chưa làm được Đánh giá chất lượng của việc thiết kế hệ thống 9 An ninh mạng Nhóm 08. Ưu, nhược điểm của IDS. Các loại IDS Ngày nay công nghệ IDS đã dần được thay thế bằng các giải pháp IPS. Tuy nhiên trên thực tế, một số hệ thống IDS được thiết kế với khả n\ng ng\n chặn như một chức n\ng tùy chọn.
Trong khi đó, một số hệ thống IPS lại không mang đầy đủ chức n\ng của một hệ thống phòng chống theo đúng nghĩa. Ưu điểm của IDS gồm: Phát hiện sớm các hoạt động xâm nhập. Cảnh báo và phản ứng nhanh. Ghi lại và phân tích.
Đảm bảo sự hoạt động ổn định và tin cậy của hệ thống. Tuy nhiên, hệ thống IDS vẫn còn tồn đọng những nhược điểm cần lưu ý để sử dụng hiệu quả: IDS cần được cấu hình đúng để tránh báo động nhầm. Khả n\ng phân tích traffic mã hóa của IDS còn tương đối thấp. Chi phí phát triển và vận hành hệ thống clng khá cao.
Các loại IDS: Loại Đặc điểm Là hệ thống phát hiện xâm nhập mạng. NIDS giám sát và phân Network IDS (NIDS) tích lưu lượng mạng để phát hiện các hoạt động xâm nhập hoặc bất thường trên mạng. Nod Network IDS Là hệ thống phát hiện xâm nhập mạng dựa trên các nút mạng. 10 An ninh mạng Nhóm 08.
Đề tài 17 Nod Network IDS được triển khai tại các điểm truy cập vào mạng hoặc trong các phân đoạn mạng cụ thể để giám sát và phát hiện các hoạt động xâm nhập. Là hệ thống phát hiện xâm nhập trên máy chủ hoặc thiết bị cuối. HIDS giám sát và phân tích hoạt Host IDS (HIDS) động của một máy chủ hoặc thiết bị đơn lẻ để phát hiện các hoạt động xâm nhập hoặc bất thường trên máy chủ. Kiến trúc của IDS và nguyên lý hoạt động Kiến trúc IDS bao gồm các thành phần chính: thành phần thu thập gói tin (information collection), thành phần phân tích gói tin (Detection), thành phần phản hồi (response) nếu gói tin đó được phát hiện là một cuộc tấn công.
Thành phần phân tích gói tin là quan trọng nhất và ở thành phần này bộ cảm biến đóng vai trò quyết định. Bộ cảm biến tích hợp với thành phần 11 An ninh mạng Nhóm 08. Đề tài 17 là sưu tập dữ liệu và một bộ tạo sự kiến. Cách sưu tập này được xác định bởi chính sách tạo sự kiện để định nghĩa chế độ lọc thông tin sự kiện.
Vai trò của bộ cảm biến là dùng để lọc thông tin và loại bỏ dữ liệu không tương thích đạt được từ các sự kiện liên quan với hệ thống bảo vệ, vì vậy có thể phát hiện được các hành động nghi ngờ. Bộ phân tích sử dụng cơ sở dữ liệu chính sách phát hiện cho mục này. Ngoài ra còn có các thành phần: dấu hiệu tấn công, profile hành vi thông thường, các tham số cần thiết. Thêm vào đó, cơ sở dữ liệu giữa các tham số cấu hình, gồm các chế độ truyền thông với module đáp trả.
Bộ cảm biến cũng có sơ sở dữ liệu của riêng nó. Nguyên lý hoạt động Một host tạo ra một gói tin mạng. Các cảm biến trong mạng đọc các gói tin trong khoảng thời gian trước khi nó được gửi ra khỏi mạng cục bộ (cảm biến này cần phải được đặt sao cho nó có thể đọc tất cả các gói tin). Chương trình phát hiện nằm trong bộ cảm biến kiểm tra xem có gói tin nào có dấu hiệu vi phạm hay không.
Khi có dấu hiệu vi phạm thì một cảnh báo sẽ được tạo ra và gửi đến giao diện điều khiển. Khi giao diện điều khiển lệnh nhận được cảnh báo nó sẽ gửi thông báo cho một người hoặc một nhóm đã được chỉ định từ trước (thông qua email, cửa sổ popup, trang web v. Phản hồi được khởi tạo theo quy định ứng với dấu hiệu xâm nhập này. Các cảnh báo được lưu lại để tham khảo trong tương lai (trên địa chỉ cục bộ hoặc trên cơ sở dữ liệu).
Một báo cáo tóm tắt về chi tiết của sự cố được tạo ra. Cảnh báo được so sánh với các dữ liệu khác để xác định xem đây có phải là cuộc tấn công hay không. 12 An ninh mạng Nhóm 08. Đề tài 17 CHƯƠNG II.
CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÁT HIỆN TẤN CÔNG TRONG HỆ THỐNG IDS/IPS VÀ SNORT II. Các phương pháp phát hiện bất thường Các phương pháp thường được sử dụng trong bài toán phát hiện xâm nhập mạng là: phát hiện dựa trên luật (rule-based) và mạng nơ-ron. 13 An ninh mạng Nhóm 08. Phát hiện xâm nhập mạng bất thường dựa trên luật (rule – based) trong IDS/IPS Đây là phương pháp ra đời từ rất sớm và được ứng dụng vào lĩnh vực dò lgi hay phát hiện bất thường trong mạng.
Trong hệ chuyên gia, một cơ sở dữ liệu chứa tập luật (rules) miêu tả các hành vi bất thường được dùng để so sánh với các lunng dữ liệu đi đến hệ thống mạng. Nếu một lunng dữ liệu đi đến hệ thống với mục đích tấn công mà không được định nghĩa trong tập luật thì hệ thống IDS không thể phát hiện được. Trên thực tế phương pháp này được áp dụng cho hệ thống phát hiện xâm nhập Snort rất nổi tiếng. Ưu điểm: Hệ thống phát hiện bất thường dựa trên rule-based có đặc điểm dễ cấu hình, dễ thêm luật mới và dễ sử dụng.
Mgi khi hệ thống mạng đứng trước những nguy cơ tấn công mới, người quản trị chỉ việc cập nhật thêm các luật chưa có vào cơ sở dữ liệu.