30 năm xây dựng và phát triển Trung tâm CRES - ĐHQGHN 1985-2015

Tài liệu tổng hợp 30 năm xây dựng và phát triển của Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường CRES thuộc ĐHQGHN từ 1985 đến 2015.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

monograph

1985-2015

75
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Cách Trung tâm CRES khẳng định vị thế 30 năm Tài nguyên và Môi trường ĐHQGHN

Trong suốt 30 năm Tài nguyên và Môi trường ĐHQGHN, Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường (CRES) đã không ngừng phát triển từ một đơn vị nhỏ thuộc Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội thành trung tâm nghiên cứu liên ngành hàng đầu quốc gia. Được thành lập theo Quyết định số 1259/QĐ ngày 15/11/1985 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, CRES khởi đầu với chỉ 10 cán bộ dưới sự lãnh đạo của Giáo sư Võ Quý – nhà khoa học nổi tiếng về đa dạng sinh học và môi trường. Từ những năm đầu tiên, CRES đã xác định rõ sứ mệnh: nghiên cứu chiến lược môi trường, đào tạo nhân lực chất lượng cao và tư vấn chính sách phát triển bền vững. Qua từng giai đoạn tái cấu trúc – đặc biệt là sau sáp nhập Trung tâm Quốc tế Nghiên cứu Biến đổi Toàn cầu (ICARGC) năm 2014 – CRES đã mở rộng quy mô, nâng cao năng lực nghiên cứu và hợp tác quốc tế. Đến nay, CRES là đơn vị trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN), mang tên tiếng Anh “Centre for Natural Resources and Environmental Studies”, hoạt động trong ba trụ cột: nghiên cứu khoa học, đào tạo sau đại học, và tư vấn chính sách môi trường. Thành tựu nổi bật bao gồm hàng trăm công trình khoa học, chương trình thạc sĩ - tiến sĩ mã số thí điểm “Môi trường và Phát triển bền vững”, cùng nhiều dự án bảo tồn đa dạng sinh học tại các Vườn Quốc giaKhu Dự trữ sinh quyển.

1.1. Hành trình hình thành và phát triển của CRES từ 1985 đến nay

CRES bắt đầu với tên gọi ban đầu là Trung tâm Nghiên cứu Hệ sinh thái Rừng ngập mặn, trực thuộc Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Năm 1995, theo Quyết định số 269/TCCB, CRES được tổ chức lại dưới ĐHQGHN. Giai đoạn 2006–2016 chứng kiến bước chuyển mình mạnh mẽ khi CRES tích hợp ICARGC, mở rộng sang lĩnh vực biến đổi khí hậuphát triển bền vững. Các thế hệ lãnh đạo như GS. Lê Trọng Cúc, PGS. Phạm Bình Quyền, TS. Hoàng Văn Thắng đã đóng vai trò then chốt trong việc định hướng chiến lược nghiên cứu.

1.2. Vai trò của CRES trong hệ sinh thái nghiên cứu ĐHQGHN

Là một mắt xích quan trọng trong hệ thống nghiên cứu của Đại học Quốc gia Hà Nội, CRES đóng góp vào mục tiêu trở thành đại học nghiên cứu tầm khu vực. Trung tâm không chỉ thực hiện các đề tài cấp nhà nước mà còn kết nối mạng lưới chuyên gia trong và ngoài nước, hỗ trợ xây dựng chính sách môi trường dựa trên bằng chứng khoa học. Điều này giúp CRES trở thành Salient Entity trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường tại Việt Nam.

II. Những thách thức lớn trong 30 năm Tài nguyên và Môi trường ĐHQGHN

Dù đạt nhiều thành tựu, 30 năm Tài nguyên và Môi trường ĐHQGHN cũng đối mặt với không ít thách thức. Một trong những rào cản chính là thiếu nguồn lực tài chính ổn định cho nghiên cứu dài hạn, đặc biệt trong bối cảnh ngân sách nhà nước eo hẹp. Bên cạnh đó, sự chồng chéo quản lý giữa các cơ quan nhà nước về tài nguyên và môi trường gây khó khăn cho việc triển khai chính sách dựa trên nghiên cứu của CRES. Ngoài ra, biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp đòi hỏi phương pháp tiếp cận liên ngành sâu sắc hơn, nhưng khung pháp lý và cơ chế phối hợp liên ngành vẫn chưa đủ linh hoạt. Một thách thức khác là thiếu hụt nhân lực trẻ có trình độ cao trong lĩnh vực môi trường, do thu nhập thấp và cơ hội nghề nghiệp hạn chế so với các ngành kỹ thuật khác. Tuy nhiên, CRES đã chủ động thích nghi bằng cách mở rộng hợp tác quốc tế, thu hút tài trợ từ các tổ chức như UNDP, GIZ, và Sida, đồng thời tăng cường đào tạo kỹ năng mềm và ngoại ngữ cho nghiên cứu viên trẻ.

2.1. Khó khăn về nguồn lực và cơ chế quản lý

Nhiều dự án nghiên cứu của CRES bị gián đoạn do thiếu kinh phí duy trì sau giai đoạn đầu. Cơ chế đặt hàng nghiên cứu từ cơ quan nhà nước thường mang tính ngắn hạn, không khuyến khích nghiên cứu cơ bản hoặc dự báo dài hạn – điều cần thiết cho quản lý tài nguyên bền vững.

2.2. Áp lực từ biến đổi khí hậu và suy thoái môi trường

Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất bởi biến đổi khí hậu toàn cầu. CRES phải liên tục cập nhật mô hình dự báo, đánh giá rủi ro và đề xuất giải pháp thích ứng – từ vùng ven biển đến Tây Nguyên. Điều này đòi hỏi công nghệ giám sát môi trườngphân tích dữ liệu lớn, vốn chưa được đầu tư đầy đủ.

III. Phương pháp nghiên cứu đột phá của CRES trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường

Phương pháp nghiên cứu của CRES trong 30 năm Tài nguyên và Môi trường ĐHQGHN luôn gắn liền với tính liên ngànhứng dụng thực tiễn. Trung tâm áp dụng tiếp cận hệ thống (systems approach), kết hợp sinh thái học, địa lý, kinh tế môi trường và khoa học xã hội để phân tích toàn diện các vấn đề như suy thoái đất, ô nhiễm nước, hay mất đa dạng sinh học. Một điểm nổi bật là việc sử dụng viễn thám và GIS để theo dõi biến động tài nguyên thiên nhiên qua thời gian. CRES cũng tiên phong trong việc xây dựng chỉ số phát triển bền vững địa phương, hỗ trợ các tỉnh như Quảng Ninh, Thừa Thiên Huế trong hoạch định chính sách. Ngoài ra, nhóm nghiên cứu CRES thường xuyên tổ chức khảo sát thực địa, thu thập mẫu sinh học và dữ liệu xã hội từ cộng đồng dân cư – đặc biệt tại các khu bảo tồn thiên nhiên. Nhờ đó, nhiều loài sinh vật mớihệ sinh thái đặc hữu đã được ghi nhận, đóng góp vào cơ sở dữ liệu quốc gia và toàn cầu.

3.1. Ứng dụng công nghệ GIS và viễn thám trong quản lý tài nguyên

CRES đã xây dựng hệ thống GIS chuyên dụng cho theo dõi rừng ngập mặn, đầm lầy và vùng ven biển. Dữ liệu vệ tinh được xử lý để phát hiện mất rừng, xâm nhập mặn và thay đổi sử dụng đất – cung cấp thông tin kịp thời cho cơ quan chức năng.

3.2. Nghiên cứu đa dạng sinh học và phát hiện loài mới

Nhiều công trình của CRES tại Vườn Quốc gia Cúc Phương, Bạch Mã, và Kon Ka Kinh đã ghi nhận các loài đặc hữu quý hiếm. Những phát hiện này không chỉ có giá trị khoa học mà còn hỗ trợ lập kế hoạch bảo tồn đa dạng sinh học hiệu quả hơn.

IV. Ứng dụng thực tiễn từ 30 năm nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường ĐHQGHN

Thành quả của 30 năm Tài nguyên và Môi trường ĐHQGHN không chỉ nằm trên giấy mà đã ứng dụng thực tiễn rộng rãi. CRES là đơn vị tư vấn chính cho nhiều dự án bảo tồn cấp quốc gia, như phục hồi rừng ngập mặn ở Nam Định hay quản lý lưu vực sông Hồng. Các khóa đào tạo ngắn hạn do CRES tổ chức đã nâng cao năng lực cho hàng nghìn cán bộ từ 63 tỉnh thành về giám sát môi trường, đánh giá tác động môi trường (ĐTM)quản lý rác thải. Đặc biệt, chương trình thạc sĩ “Môi trường và Phát triển bền vững” đã đào tạo hơn 500 chuyên gia, nhiều người hiện giữ vị trí then chốt trong Bộ Tài nguyên và Môi trường, các viện nghiên cứu và tổ chức phi chính phủ. CRES cũng tham gia xây dựng Tiêu chuẩn quốc gia về đa dạng sinh họcKhung chiến lược thích ứng biến đổi khí hậu cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Những đóng góp này khẳng định vai trò trung tâm nghiên cứu ứng dụng của CRES trong hệ thống chính sách môi trường Việt Nam.

4.1. Đóng góp vào chính sách môi trường quốc gia

CRES đã cung cấp bằng chứng khoa học cho Luật Bảo vệ Môi trường (sửa đổi 2020)Chiến lược Quốc gia về Đa dạng Sinh học đến 2030. Các báo cáo của trung tâm thường được trích dẫn trong văn kiện của Chính phủ và Quốc hội.

4.2. Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao

Chương trình đào tạo sau đại học của CRES chú trọng liên ngànhgiải quyết vấn đề thực tế. Sinh viên được tham gia dự án thực tế ngay từ năm đầu, làm việc với cộng đồng và cơ quan quản lý – tạo ra đội ngũ chuyên gia sẵn sàng hành động.

V. Bí quyết phát triển bền vững của CRES trong kỷ nguyên mới

Để tiếp tục phát huy vai trò trong 10–20 năm tới, CRES đang áp dụng bí quyết phát triển bền vững dựa trên ba trụ cột: số hóa nghiên cứu, toàn cầu hóa hợp tác, và gắn kết cộng đồng. Trung tâm đang xây dựng trung tâm dữ liệu môi trường mở, cho phép truy cập miễn phí các bộ dữ liệu về khí hậu, đất, nước và sinh học. Đồng thời, CRES mở rộng quan hệ với các đại học hàng đầu như University of Copenhagen, Kyoto University, và ANU để triển khai dự án chung. Một chiến lược then chốt khác là khoa học công dân (citizen science) – khuyến khích người dân tham gia thu thập dữ liệu môi trường qua ứng dụng di động. Điều này không chỉ tăng độ phủ dữ liệu mà còn nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường. Với tầm nhìn trở thành trung tâm nghiên cứu môi trường hàng đầu ASEAN, CRES đang đầu tư mạnh vào trí tuệ nhân tạomô hình dự báo khí hậu, nhằm cung cấp giải pháp chính xác, kịp thời cho các nhà hoạch định chính sách.

5.1. Chuyển đổi số trong nghiên cứu môi trường

CRES đang phát triển nền tảng AI-driven environmental monitoring để phân tích dữ liệu cảm biến, vệ tinh và xã hội. Công nghệ này giúp dự báo sớm hạn hán, lũ lụtsuy thoái hệ sinh thái.

5.2. Mở rộng mạng lưới hợp tác quốc tế

Thông qua các chương trình Erasmus+, Horizon Europe và ASEAN S&T, CRES đã thiết lập mạng lưới nghiên cứu toàn cầu, thu hút học giả quốc tế và tăng cường uy tín học thuật.

VI. Tương lai của 30 năm Tài nguyên và Môi trường ĐHQGHN Hướng đến trung tâm nghiên cứu ASEAN

Sau 30 năm Tài nguyên và Môi trường ĐHQGHN, CRES đặt mục tiêu trở thành trung tâm nghiên cứu môi trường hàng đầu ASEAN vào năm 2035. Để đạt được điều này, CRES sẽ tập trung vào ba định hướng chiến lược: (1) nâng cấp cơ sở vật chất thành phòng thí nghiệm đạt chuẩn ISO/IEC 17025; (2) phát triển chương trình tiến sĩ liên kết quốc tế với các trường đại học danh tiếng; và (3) xây dựng trung tâm đổi mới sáng tạo xanh – nơi ươm tạo startup về công nghệ môi trường. CRES cũng cam kết thúc đẩy công lý môi trườngbình đẳng giới trong khoa học, đảm bảo mọi nhóm yếu thế đều được lắng nghe trong quá trình ra quyết định. Với bề dày thành tích, mạng lưới chuyên gia và tầm nhìn dài hạn, CRES hoàn toàn có khả năng dẫn dắt chuyển đổi xanh tại Việt Nam và khu vực, góp phần thực hiện Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDGs) của Liên Hợp Quốc.

6.1. Chiến lược quốc tế hóa và nâng cao uy tín học thuật

CRES đặt mục tiêu tăng số lượng công bố ISI/Scopus lên 30 bài/năm và tổ chức Hội thảo quốc tế thường niên về “Môi trường và Phát triển bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu” – sự kiện đã được tổ chức lần thứ 3 vào năm 2015.

6.2. Gắn nghiên cứu với đổi mới sáng tạo xanh

Trung tâm đang ươm tạo các dự án như cảm biến nước thông minh, vật liệu hấp phụ kim loại nặng từ sinh khối, và nền tảng chia sẻ dữ liệu môi trường cộng đồng – tất cả hướng đến kinh tế tuần hoànphát triển carbon thấp.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/03/2026
Luận văn cres 30 năm xây dựng và phát triển

Trích đoạn nội dung tài liệu

DAI HOC QUOC GIA HA NOI TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG 1985-2015 _ XÂY DỰNG & PHÁT TRIỂN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MỖI TRƯỜNG 1985 -2015 Chịu trách nhiệm xuất bản TS. Hoàng Văn Thắng XÂY DUNG & PHAT TRIEN Ban biên tập: TS. Hoang Van Thang PGS. Phùng Quốc Thanh ‘Ths.

Bui Hà Ly Hinh anh: Sưu tắm từ các hoạt động của CRES và internet Trình bày: Nguyễn Ngọc Dũng, * Tàiiệu lưu hành nội bộ LỜI GIỚI THIỆU CỦA GIÁM ĐỐC TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi huấn ngắn hạn và trung hạn cho các nhóm đối tượng khác nhau, bao gồm các NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG trường được Bộ Giáo dục và Đào tạo thành lập nhà hoạch định chính sách và những cán bộ công tác trong lĩnh vực tài nguyên theo Quyết định số 1259/QĐ ngày 15/11/1985, và môi trường từ tất cả các bộ ngành các địa phương trong cả nước; (iv) tổ chức trước đây trực thuộc Trường Đại học Tổng hợp. tuyển sinh và triển khai công tác đào tạo sau đại học chương trình thạc sĩ và tiển sĩ Hà Nội. Trung tâm được tổ chức lại theo Quyết khoa học môi trường, mã số thí điểm “Môi trường và Phát triển bền vững", Những định số 269/TCCB ngày 05/8/1995 của Giám đốc hoạt động này đã góp phần quan trọng vào việc khẳng định uy tín và thương ĐHQGHN sau khi sáp nhập Trung tâm Nghiên hiệu của Trung tâm - CRES, trong các tổ chức khoa học và các nhà hoạt động môi cứu Hệ sinh thái Rừng ngập mặn thuộc Trường trường trong nước và quốc tế, góp phần khẳng định và lan tỏa giá trị thương hiệu Đại học Sư phạm Hà Nội l. 'VNU của Đại học Quốc gia Hà Nội.

Để phù hợp với tình hình và nhiệm vụ trong Trong giai đoạn phát triển để sớm trở thành một đại học nghiên cứu tầm giai đoạn mới, Trung tâm được tái cẩu trúc trên cơ khu vực và thế giới của Đại học Quốc gia Hà Nội hiện nay, Trung tâm cũng đã có sở sáp nhập Trung tâm Quốc tế Nghiên cứu Biến những bước phát triển mới, tái cấu trúc về mặt tổ chức và quản lý để trở thành đổi Toan cau (ICARGC) trực thuộc ĐHQGHN theo. một đơn vị có quy mô tổ chức lớn hơn, mang tính liên ngành sâu sắc, có trình độ Quyết định số 61/QĐ-ĐHOGHN ngày 08/01/2014 cao hơn về khoa học và công nghệ môi trường. của Giám đốc ĐHOGHN. Hiện tại, với Quy chế Nhân dịp kỷ niệm 30 nãm ngày thành lap, Trung tam xin giới thiệu với bạn đọc tổ chức và hoạt động mới, Trung tâm là đơn vị các ấn phẩm : nghiên cứu KHCN trực thuộc ĐHQGHN, với tên tiếng Anh là “Centre for Natural Resources and ~_30 năm Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường; Environmental Studies - CRES”.

~_ Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia lần thứ 3 về “Môi trường và phát triển 30 năm, thời gian cũng đủ dài để khẳng bền vững trong bối cảnh biến đối khí hậu”; định tên tuổi của chính mình. Trung tâm tự hào ~_ Danh mục các công trình khoa học 1985-2015 của các cán bộ Trung tâm. là một đơn vị phát triển vững mạnh, hàng đầu trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường và đã Cũng nhân dịp này, Trung tâm xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới lãnh đạo đạt được những thành tựu quan trọng trong 3 Đại học Quốc gia Hà Nội và các ban ngành, đoàn thể đã chỉ đạo và hỗ trợ Trung lĩnh vực hoạt động chính. Đó là nghiên cứu khoa tâm trong suốt quá trình trưởng thành và phát tri các bộ, ngành, các địa học; đào tạo sau đại học về khoa học môi trường phương, tới các trường đại học, viện nghiên cứu và các cán bộ khoa học, đặc biệt và phát triển bền vững; đào tạo bồi dưỡng ngắn là các đồng nghiệp trong lĩnh vực môi trường, tài nguyên thiên nhiên và phát hạn và trung hạn về các vấn để môi trường; tư triển bền vững đã hỗ trợ và hợp tác với Trung tâm thực hiện các dự án nghiên cứu.

vấn và dịch vụ khoa học công nghệ về bảo vệ cũng như các hoạt động đào tạo. Trung tâm cũng xin chân thành cảm ơn các cơ. môi trường, bảo tổn đa dạng sinh học, sử dụng quan, tổ chức và các nhà khoa học quốc tế đã tài trợ và hợp tác để có được những. hợp lý và bển vững tài nguyên thiên nhiên.

thành tựu và sự phát triển như ngày hôm nay. Trung tâm đã tổ chức triển khai và tham gia tích cực, hiệu quả các hoạt déng cu thé sau: (i) Hà Nội, tháng 11 nãm 2015 xây dựng chiến lược quốc gia và kế hoạch hành động về đa dạng sinh học và môi trường; (i) thực hiện các dự án/chương trình trong nước và hợp TS. HOANG VĂN THẮNG tác quốc tế về môi trường, tài nguyên thiên nhiên Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và phát triển bền vững; (iii) tổ chức các khóa tập Tài nguyễn và Môi trường 4 Trung tâm Nghiễn cứu Tài nguyễn và Môi trường Kỷ niệm 30 năm ngày thành lắp 5 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TS. Hoang Van Thắng Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường CON DUONG CRES - 30 năm triển khai có hiệu quả công tác Cùng với sự phát triển của đất nước và đáp ứng nghiên cứu khoa học của một đơn vị hàng đầu nhu cầu ngày càng cao của sự nghiệp bảo vệ môi trong lĩnh vực bảo tổn đa dạng sinh học, bảo trường, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và phát vệ môi trường, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên triển bển vững, vào ngày 5 tháng 8 năm 1995, nhiên và phát triển bền vững của cả nước.

Trung tâm được Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội ~ GS. Nguyễn Văn Đạo ra quyết định sắp xếp và Ngay khi Chương trình quốc gia“Nghiên cứu sử dụng. tổ chức lại Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường” Môi trường, trên cơ sở sáp nhập Trung tâm Nghiên (Mã số 52-02) đang triển khai vào những năm 1981- cứu Tài nguyên và Môi trường - Đại học Tổng hợp. 1985, xuất phát từ yêu cầu thực tiễn cấp bách và được Hà Nội (1985) và Trung tâm Nghiên cứu Hệ sinh sự khuyến khích của đồng nghiệp, Giáo sư Võ Quý, thái Rừng ngập mặn - Đại học Sư phạm Ha Noi | với tư cách là Chủ nhiệm Khoa Sinh học và là người (1987) thành Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và đang chịu trách nhiệm phụ trách Chương trình quốc Môi trường - Đại học Quốc gia Hà Nội.

Và đến năm gia về Môi trường, đã được phép của Ban Giám hiệu 2014, một lần nữa Trung tâm lại được tăng cường Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, thành lập Trung sức mạnh do tái cấu trúc, sáp nhập Trung tâm tâm Tài nguyên và Môi trường. Và ngày 15 tháng 11 Nghiên cứu Quốc tế về Biển đổi toàn cầu thuộc năm 1985 đã trở thành một mốc son quan trọng của ĐHQGHN thành Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường khi và Môi trường ngày nay. Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học Chuyên nghiệp ~ GS. Nguyễn Đình Tứ ra quyết định thành lập Ngay từ những ngày đầu thành lập, Giáo sư Võ Quý Trung tâm với Giáo sư Võ Quý là Giám đốc đầu tiên và toàn bộ CBVC của Trung tâm ngày đó cũng như của Trung tâm.

Những ngày đầu thành lập, CRES chỉ bây giờ luôn ý thức được tầm quan trọng của công vẻn vẹn có 10 thành viên là cán bộ của Khoa Sinh tác bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, học và Khoa Địa lý đang tham gia Chương trình Môi phục vụ việc phát triển bền vững và giữ gìn nguồn trường. Mục tiêu của Trung tâm trong thời điểm nay gien quý giá mà thiên nhiên đã hào phóng ưuái cho là nghiên cứu thực hiện Chiến lược do Chương trình nước ta. Rất nhiều phát hiện các loài mới, đặc hữu Môi trường để ra, đồng thời thực hiện một số hướng của các vùng, miền, tại các Vườn Quốc gia, Khu Bảo nghiên cứu mới, kết hợp với đào tạo đội ngũ các nhà tồn và các Khu Dự trữ sinh quyền được các cán bộ khoa học trẻ về môi trường cho đất nước. của Trung tâm phát hiện hoặc góp phần phát hiện, 12 Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyễn và Môi trường, kỷ niệm 30 năm ngày thành lập | 13 TM HN.

Tas ees LEBAO VE KHOA LUAN TỐT NGHIỆP bảo tồn. Từ việc phát hiện lại Sếu cổ trụi (1985), của nhiếu trường đại học trên thế giới đến nghiên phát hiện Sao la, loài thú quý hiểm có nguy cơ tuyệt cứu và học tập như: Đại học Berkeley, Đại học Yale chủng cao và đặc trưng cho hệ sinh thái của dãy ~ Hoa Ky, Bai hoc East Anglia - UK, Dai hoc Saint Trường Sơn tại Vườn Quốc gia Vũ Quang (Hà Tĩnh) Merry - Canada, Đại học Upsala - Thụy Điển, Vườn năm 1992 và phát hiện lai gan day năm 2013 đến thú Cologne - CHLB Đức, Đại học Quốc gia Úc (ANU), loài Mang Pù Hoạt (Muntiacus rooseveltorum), sau Đại học Quốc gia Singapore. 85 năm vắng bóng tại Vườn Quốc gia Xuân Liên CRES - đơn vị tiên phong trong đào tạo, tư vấn và (Thanh Héa).déu ghi đậm dấu ấn của cán bộ khoa dịch vụ về tài nguyên, môi trường và phát triển học của Trung tâm. Ngoài ra, cán bộ của Trung tâm bến vững; với một đội ngũ và cách tiếp cận liên cùng với các đồng nghiệp quốc tế đã xuất bản cuốn ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao, đáp ứng nhu sách về đa dạng sinh học của Việt Nam “Vietnam: cầu của xã hội.

‘A Natural History” do nhà xuất ban dai hoc Yale an bản. Cuốn sách đã nhận được nhiều giải thưởng uy Kể từ năm 2004, khi Trung tâm được ĐHQGHN cho. tín và được nhiều chuyên gia quốc tế khen ngợi. phép đào tạo mã ngành thạc sĩ và tiến sĩ thí điểm Hay sách “Đất ngập nước” tập I và I được nhận Giải “Môi trường trong Phát triển Bến vững" và sau này.

thưởng Sách Việt Nam. Chính công tác bảo tồn đa là “Môi trường và Phát triển bền vững; đến nay dạng sinh học đã làm nên thương hiệu “CRES” của Trung tâm đã đào tạo được 9 khóa NCS và 10 khóa Trung tâm với các Tổ chức và Công ước Quốc tế như đào tạo Thạc sĩ với 39 NCS và 207 học viên cao học IUCN, WWF, CITES, RAMSAR.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ