Khoá luận Hán Nôm: Tuần Cai biệt thự hợp tập Q.10 - Phiên dịch và chú thích

Giới thiệu và phân tích luận văn cử nhân chưa được công bố từ năm 2004 với tiêu đề DCH va Gii. Nghiên cứu học thuật cung cấp cái nhìn sâu sắc về chủ đề được đề

Chuyên ngành

Hán Nôm

Người đăng

Ẩn danh

2004

251
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về khóa luận dịch và giới thiệu 2004

Khóa luận tốt nghiệp năm 2004 của Phùng Minh Hiếu là công trình chưa công bố thuộc ngành Hán Nôm. Đề tài tập trung vào quyển thơ số 10 trong Tuần Cai biệt thự hợp tập của tác giả Quân Bác. Tác giả khảo sát văn bản, phiên dịch, chú thích và giới thiệu di sản thơ chữ Hán này. Công trình hoàn thành trong ba tháng, từ ngày 24/02/2004 đến ngày 28/05/2004. Mục tiêu của khóa luận có hai mặt rõ ràng. Mặt thứ nhất là tổng kết tri thức và kĩ năng đã tích lũy suốt bốn năm học. Mặt thứ hai là tạo tiền đề cho con đường nghiên cứu khoa học về sau. Khóa luận khảo cứu 51 bài thơ chữ Hán của quyển thơ số 10. Tác giả công bố bản dịch, chú giải đầy đủ và lập bảng tra từ ngữ. Đây là bước tập dượt làm nghiên cứu khoa học nghiêm túc. Công trình gắn kết chặt giữa văn bản học và phân tích nghệ thuật ngôn từ. Giá trị của bản thảo unpublished này nằm ở tính nguyên bản và độ tỉ mỉ.

1.1. Bối cảnh ra đời của bản thảo unpublished

Khóa luận thuộc khóa 2000-2004, hệ chính quy, ngành Hán Nôm tại Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội. Tác giả được thầy gợi ý và chỉ dẫn chọn đề tài về Tuần Cai biệt thự hợp tập. Đây là tập thơ chữ Hán chưa được dịch và công bố rộng rãi. Bản thảo mang tính chất unpublished ba thesis, tức một luận văn cử nhân chưa xuất bản. Giá trị học thuật của nó vì thế còn nguyên vẹn. Người đọc tiếp cận trực tiếp tư liệu gốc và phương pháp làm việc của một nhà nghiên cứu trẻ thời điểm đó.

1.2. Cấu trúc tổng thể của công trình dịch và giới thiệu

Công trình chia thành phần mở đầu, hai chương chính, phần kết luận và phụ lục. Phần mở đầu nêu lí do chọn đề tài, đối tượng, phương pháp và bố cục. Chương một bàn về văn bản học của quyển thơ số 10. Chương hai tiếp cận tác phẩm như một văn bản nghệ thuật ngôn từ. Phụ lục chứa bản chụp nguyên bản chữ Hán, bản dịch chú giải 51 bài thơ và bảng tra từ ngữ. Bố cục này thể hiện rõ tư duy khoa học chặt chẽ. Mỗi phần phục vụ một mục tiêu cụ thể trong việc khảo sát, phiên dịch và giới thiệu di sản.

II. Phân tích vấn đề dịch thuật và công bố văn bản

Vấn đề trung tâm của khóa luận là dịch thuật và công bố văn bản quyển thơ số 10. Văn bản gốc tồn tại dưới dạng bản in ván khắc và bản viết tay. Tác giả phát hiện nhiều chỗ chữ bị khắc sai trên bản in. Người thợ đã bào bạt đi rồi gắn lại bằng chữ khác hoặc miếng gỗ vuông nhỏ. Những miếng gỗ này tạo nên các ô vuông đen trên trang in. Ban đầu có giả thuyết cho rằng đó là việc kiêng húy. Tác giả bác bỏ giả thuyết này bằng chứng cứ cụ thể. Việc đối chiếu với bản viết A.377 giúp khôi phục một vị trí. Ô đen ở cột 6, tờ 4b chính là chữ minh. Chữ này phù hợp hoàn toàn với ngữ cảnh. Phát hiện đó khẳng định các ô đen không vì lí do kiêng húy. Vấn đề dịch thuật đòi hỏi xử lí cả chỗ khuyết và chỗ mờ. Tác giả phải so sánh nhiều dị bản để xác định văn tự đúng. Đây là thách thức lớn của ngành văn bản học Hán Nôm.

2.1. Khảo sát các ô vuông đen và dị bản

Các ô vuông đen trên bản in gây khó khăn cho việc phiên dịch. Tác giả không chấp nhận lời giải thích dễ dãi về kiêng húy. Thay vào đó, công trình đối chiếu trực tiếp với bản viết tay A.377. Kết quả khôi phục được chữ minh ở một vị trí cụ thể. Một vị trí khác lại bị bỏ trắng, dễ nhầm với khoảng du cách hay đài chữ. Việc bản viết A.377 đầy đủ hơn bản in gợi ý nó chép từ nguồn khác. Phân tích này mở ra hướng xác định niên đại và thứ tự sớm muộn của các văn bản Tuần Cai biệt thự hợp tập còn lưu giữ.

2.2. Thách thức trong phiên dịch thơ chữ Hán

Phiên dịch 51 bài thơ chữ Hán đòi hỏi độ chính xác cao. Mỗi chữ khuyết đều ảnh hưởng đến nghĩa của cả câu. Tác giả phải nắm vững thể loại, vần thơ và luật bằng trắc. Bên cạnh đó là việc xử lí từ ngữ cổ và điển cố. Quân Bác sáng tác theo lối cách luật và cổ phong. Nhiều đề tài mang tính truyền thống như vịnh cảnh, vịnh vật, đề kí. Người dịch cần hiểu hệ thống chủ đề thơ cổ để chuyển ngữ đúng tinh thần. Công việc này kết hợp tri thức ngôn ngữ học, văn học và lịch sử văn hóa.

III. Phương pháp khảo sát phiên dịch và chú thích

Phương pháp nghiên cứu của khóa luận mang tính tổng hợp và liên ngành. Tác giả kết hợp phương pháp văn bản học với phân tích nghệ thuật ngôn từ. Bước đầu tiên là khảo sát xuất xứ và lai lịch văn bản. Bước tiếp theo là đối chiếu quyển thơ số 10 với các quyển thơ khác. Sau đó tác giả tiến hành phiên dịch toàn bộ 51 bài thơ. Mỗi bài đều được chú thích kĩ lưỡng về từ ngữ và điển cố. Phương pháp so sánh dị bản giữ vai trò then chốt. Việc đối chiếu bản in và bản viết tay giúp xác định văn tự chính xác. Tác giả còn phân tích thể loại, vần và luật bằng trắc của thơ. Cách tổ chức các lượng ngữ nghĩa trong từng bài cũng được làm rõ. Kết quả là một bản dịch chú giải đầy đủ kèm bảng tra từ ngữ. Phương pháp này đảm bảo tính khoa học và khả năng kiểm chứng. Nó cũng tạo nền tảng vững chắc cho nghiên cứu sâu hơn về sau.

3.1. Quy trình khảo sát và đối chiếu văn bản

Quy trình bắt đầu từ việc xác định nguồn gốc văn bản gốc. Tác giả thu thập bản in ván khắc và các bản viết tay liên quan. Bản viết A.377 và bản đang lưu ở nhà ông Nguyễn Quí Tiết tại Huế là tư liệu quan trọng. Việc đối chiếu giúp phát hiện chỗ khuyết, chỗ sai và chỗ được gắn lại. Mỗi khác biệt giữa các bản đều được ghi nhận cẩn thận. Phương pháp này cho phép xác định độ tin cậy của từng dị bản. Nó đồng thời mở ra cơ sở để dựng lại lịch sử truyền bản của tập thơ.

3.2. Kỹ thuật chú thích và lập bảng tra từ ngữ

Chú thích là khâu công phu nhất của công trình. Tác giả giải nghĩa từ cổ, điển cố và các kết cấu ngữ pháp Hán văn. Mỗi chú giải đều bám sát ngữ cảnh cụ thể của bài thơ. Bảng tra từ ngữ cho 51 bài thơ là sản phẩm phụ trợ giá trị. Nó giúp người đọc tra cứu nhanh và đối chiếu cách dùng từ. Kỹ thuật này thể hiện tinh thần làm việc nghiêm túc. Nó cũng biến bản thảo unpublished thành công cụ tham khảo hữu ích cho người học Hán Nôm và nghiên cứu thơ chữ Hán Việt Nam.

IV. Kết luận và ứng dụng giá trị nghiên cứu

Khóa luận 2004 đạt nhiều kết quả bước đầu có ý nghĩa. Tác giả công bố bản dịch và chú giải đầy đủ cho 51 bài thơ chữ Hán. Công trình làm sáng tỏ nhiều vấn đề văn bản học của Tuần Cai biệt thự hợp tập. Phát hiện về các ô vuông đen là đóng góp đáng chú ý. Nó bác bỏ giả thuyết kiêng húy bằng chứng cứ thuyết phục. Bản thảo unpublished này giữ nguyên giá trị tư liệu gốc. Người đọc tiếp cận trực tiếp thơ Quân Bác và phương pháp làm việc khoa học. Giá trị ứng dụng của công trình trải rộng nhiều lĩnh vực. Sinh viên Hán Nôm có thể dùng nó làm mẫu cho khóa luận. Nhà nghiên cứu kế thừa kết quả để khảo cứu sâu hơn. Bảng tra từ ngữ phục vụ việc học từ vựng Hán văn cổ. Công trình cũng góp phần bảo tồn di sản thơ chữ Hán Việt Nam. Đây là nền tảng cho các nghiên cứu liên ngành về văn học trung đại.

4.1. Đóng góp khoa học của công trình dịch và giới thiệu

Công trình đóng góp vào ngành văn bản học Hán Nôm trên nhiều mặt. Việc dựng lại văn tự chính xác từ các ô khuyết là thành tựu cụ thể. Phân tích thể loại, vần và luật giúp hiểu rõ phong cách Quân Bác. Cách tổ chức lượng ngữ nghĩa trong thơ được làm sáng tỏ. Những nhận xét này bổ sung cho việc nghiên cứu thơ chữ Hán cách luật. Bản dịch và bảng tra từ ngữ trở thành tư liệu tham khảo lâu dài. Tính nguyên bản của bản thảo chưa công bố khiến giá trị học thuật càng cao và đáng được khai thác tiếp.

4.2. Hướng ứng dụng và nghiên cứu mở rộng

Kết quả khóa luận mở ra nhiều hướng nghiên cứu tiếp nối. Việc khảo sát toàn diện Tuần Cai biệt thự hợp tập là bước kế tiếp tự nhiên. Đối chiếu thêm bản viết tay ở Huế giúp xác định niên đại các văn bản. Đề tài cũng có thể mở rộng sang các quyển thơ khác trong tập. Trong giảng dạy, công trình làm tài liệu mẫu cho phương pháp phiên dịch và chú thích. Trong bảo tồn, nó góp phần lưu giữ di sản chữ Hán đang mai một. Giá trị ứng dụng vì thế vừa mang tính học thuật vừa mang tính văn hóa.

21/04/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

Ðại học Quốc gia Hà Nội Trường Ðại học Khoa học xã hội và Nhân văn Khoa Văn học / Bộ môn Hán Nôm Phùng Minh Hiếu Tuần Cai biệt thự hợp tập (Q.10) Bước đầu khảo sát, phiên dịch, chú thích, giới thiệu văn bản và nhận xét về phong cách nghệ thuật Khoá luận tốt nghiệp Ngành Hán Nôm Khoá 2000 - 2004 Hệ Chính qui MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 2 1. Lí do chọn đề tài 2 2. Đối tượng nghiên cứu 5 3. Phương pháp nghiên cứu 6 4. Kết quả bước đầu đạt được của khoá luận 7 5. Bố cục khoá luận 8 CHƯƠNG 1: QUYỂN THƠ SỐ 10 TRONG “TUẦN CAI BIỆT THỰ HỢP TẬP” CỦA QUÂN BÁC, VÀI NÉT NHÌN TỪ GÓC ĐỘ VĂN BẢN HỌC Lời dẫn 9 1. Xuất xứ, lai lịch văn bản 9 2. Quyển thơ số 10 với những quyển thơ khác 25 3. Vấn đề dịch thuật và công bố văn bản quyển thơ 10 29 CHƯƠNG 2: BƯỚC ĐẦU TIẾP CẬN “TUẦN CAI BIỆT THỰ HỢP TẬP” (Q.10) VỚI TƯ CÁCH MỘT VĂN BẢN NGHỆ THUẬT NGÔN TỪ Lời dẫn 35 1. Về thể loại, vần thơ và luật bằng trắc 37 2. Về từ ngữ và một số nét liên quan đến nội dung thơ Quân Bác 47 3. Một vài suy nghĩ về cách tổ chức các lượng ngữ nghĩa trong những bài thơ của quyển thơ 10 64 PHẦN KẾT LUẬN 77 DANH SÁCH TÀI LIỆU THAM KHẢO 80 PHỤ LỤC 86 1. Bản chụp nguyên bản chữ Hán quyển thơ 10 thuộc Tuần Cai biệt thự hợp tập của tác giả Quân Bác (Bản in A. Công bố bản dịch và chú giải cho toàn bộ 51 bài thơ chữ Hán của quyển thơ 10 86 3. Bảng tra từ ngữ cho 51 bài thơ chữ Hán của quyển thơ 10 86 2 • *Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh HiếuPhùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu* • PHẦN MỞ ĐẦU Với tư cách là sinh viên đại học năm thứ tư, chúng tôi đi vào thực hiện khoá luận này nhằm hoàn thành chương trình đào tạo Đại học 4 năm chuyên ngành Hán Nôm hệ chính qui. Thời gian từ khi tiếp cận đề tài cho đến lúc khoá luận hoàn thành là 3 tháng (từ ngày 24/02/2004 đến ngày 28/05/2004). Mục đích của việc thực hiện khoá luận, một mặt, là tổng kết toàn bộ các tri thức, kĩ năng mà sinh viên đã tiếp thu, tích lũy trong quá trình học tập, rèn luyện; vận dụng, phát huy, bổ sung những tri thức, kĩ năng này trong thực hiện thực tế một đề tài khoa học; mặt khác, là tiền đề trực tiếp cho quá trình nghiên cứu khoa học sau này trên mọi phương diện (thái độ tác phong khoa học, định hướng nghiên cứu, thao tác nghiên cứu…). Vì mục đích thứ hai của việc thực hiện khoá luận, chúng tôi thấy cần phải tự xác định trách nhiệm khoa học đối với công việc đang tiến hành, cho dù đây mới chỉ là những bước đi đầu tiên trên con đường nghiên cứu khoa học, hay đúng hơn đây chỉ là một bước “tập dượt làm nghiên cứu khoa học”. Lí do chọn đề tài Được sự gợi ý và chỉ dẫn của thầy giáo hướng dẫn khoá luận - PGS.TS Nguyễn Văn Thịnh, chúng tôi đã tiếp cận văn bản Tuần Cai biệt thự hợp tập âʝDˆfʦ, tác giả: Hoàng tử thứ tư (con vua Thiệu Trị) Nguyễn Phúc Hồng Y ʛǑŰ% (1833 - 1877), tự là Quân Bác hW. Đây là bộ tổng tập thơ văn của một tác gia văn học thời Nguyễn. Việc lựa chọn hướng nghiên cứu nhằm vào văn bản này xuất phát từ mấy nhìn nhận sau: - Mảng văn học thời Nguyễn đã được nghiên cứu khá nhiều và công phu nhưng chưa toàn diện. Một trong những biểu hiện của sự chưa toàn diện này ở chỗ còn khá nhiều di sản thơ văn Hán Nôm thời Nguyễn chưa được Phần mở đầu Khoá luận tốt nghiệp 3 • *Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh HiếuPhùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu* • chuyển dịch và công bố, đồng nghĩa với việc chưa được chú ý nhiều trong nghiên cứu, mà Tuần Cai biệt thự hợp tập thuộc về một trường hợp như thế. - Những năm gần đây, trong việc nhìn nhận đánh giá lại nhà Nguyễn trên mọi phương diện, đặc biệt là mặt lịch sử - văn hoá, và trong công cuộc khai thác bảo tồn cố đô Huế, văn hoá Huế, ngày càng có nhiều nhà nghiên cứu, học giả quan tâm đến “nghệ thuật cung đình Huế” nói chung và bộ phận “văn học cung đình Huế” nói riêng. Những áng văn chương có nội dung quan hệ với triều đình, do các tác gia văn học sáng tác trong những năm tháng của nhà Nguyễn, có chức năng sinh hoạt thực hành hướng về cung đình với phương thức lưu truyền, ấn bản ở phạm vi cung đình, nói chung thường được qui về “văn học cung đình Huế”1. Tác giả của Tuần Cai biệt thự hợp tập là hoàng tử thứ tư con vua Thiệu Trị - về xuất thân, ông thuộc dòng dõi hoàng tộc. Cuộc đời thơ văn của Nguyễn Phúc Hồng Y nằm trọn vẹn trong những năm Tự Đức - về bối cảnh sáng tác, đây là những văn chương của giai đoạn Nguyễn triều. Từ những năm Gia Long cho đến thời Tự Đức, khi bước lên ngai vàng là những ông vua đều “hay chữ và có thi tập cả” [5] thì dù là tác động trực tiếp hay không trực tiếp, nhưng đã hiện hữu một sự thực rằng: kề cận bên những ông vua ấy có hàng loạt các hoàng thân, hoàng tử, các đại thần, quan lại “trọng chữ”, “biết chữ”, hẳn là không thiếu những người “hay chữ” và có cả trước tác nữa - đó là chưa kể đến giá trị không phải không đáng kể về chất lượng, số lượng của những trước tác ấy. Hồng Y Quân Bác và thi văn tập của ông là sản phẩm của những thời như thế… Những người cùng thời với ông - vua Tự Đức, Tuy Lí vương Miên Trinh… đều biết đến và từng ngợi 1 Sử dụng khái niệm “văn học cung đình Huế”, chúng tôi đã dựa trên cách hiểu phổ biến của nhiều nhà nghiên cứu, học giả hiện nay. Khoá luận tạm thời chưa đi vào “văn học cung đình Huế” như một đối tượng nghiên cứu độc lập. Chúng tôi đưa vào thuật ngữ này chủ yếu từ góc nhìn “văn học cung đình Huế” như một bộ phận trong tổng thể các loại hình nghệ thuật có đặc điểm xác định được khi lấy “cung đình” làm tính chất và được thừa nhận là sản phẩm của xứ Huế dưới triều Nguyễn. Phần mở đầu Khoá luận tốt nghiệp 4 • *Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh HiếuPhùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu* • khen thơ văn của ông. Thơ văn Quân Bác đã viết ra ở chốn cung đình và trước hết dành cho cung đình. Trên mấy khía cạnh ấy, ông là một tác gia cung đình. Nhìn nhận Tuần Cai biệt thự hợp tập với tư cách một tác phẩm văn học thời Nguyễn và chú ý tới vai trò tác gia văn học cung đình của tác giả hợp tập, ít nhất từ hai phương diện này, Tuần Cai biệt thự hợp tập của tác giả Hồng Y Quân Bác là một vấn đề còn rộng mở cho nghiên cứu. Đến nay, Tuần Cai biệt thự hợp tập là một bộ tổng tập chưa được chuyển dịch ra tiếng Việt hiện đại1. Trong khuôn khổ một khoá luận tốt nghiệp, chúng tôi đã tiến hành dịch trọn vẹn và chú thích cho một quyển thơ2 trong hợp tập của Quân Bác - quyển thơ số 10 với tổng số 51 bài thơ. Vấn đề văn bản của tập sách, chúng tôi sẽ còn bàn đến trong những phần sau, nhưng có một điểm liên hệ tới việc định hướng đề tài khoá luận cần nói ngay, đó là: Tuần Cai biệt thự hợp tập là tổng tập gồm hai phần rất rõ rệt, một phần thơ và một phần văn (hay nói đúng hơn là các thể loại khác thơ). Quyển 1 của Tuần Cai biệt thự hợp tập cung cấp cho chúng ta một mục lục (chúng tôi đã kiểm tra và thấy rằng mục lục này nói chung “sít sao” với phần nội dung văn bản), trong đó, riêng phần thơ là 25 quyển, tập hợp các sáng tác thơ của Quân Bác liên tục trong 26 năm, mỗi một quyển thơ tương ứng với thơ do Quân Bác sáng tác trong một năm. Tính liên tục về thời gian của hợp tập và việc chuyển dịch trọn vẹn một quyển thơ như chúng tôi đã làm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiến tới giải mã một số vấn đề liên quan đến nội dung và hình thức của thơ Quân Bác. Chúng tôi cho rằng, mỗi một quyển thơ với tư 1 Như được biết, trước khi chúng tôi tiếp cận đề tài này, anh Vũ Huy Vĩ - học viên lớp Cao học ngành Hán Nôm đã và đang thực hiện luận văn Thạc sĩ với đề tài “Tuần Cai biệt thự hợp tập”, một số vấn đề tác gia tác phẩm. Trong luận văn của mình, về phần chuyển dịch, anh đã thực hiện theo cách thức tuyển dịch, chọn dịch (tức là văn bản chưa được dịch trọn vẹn nguyên bộ). 2 “Một quyển thơ” cũng như cách nói một tập sách trong tổng tập ngày nay. Phần mở đầu Khoá luận tốt nghiệp 5 • *Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh HiếuPhùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu*Phùng Minh Hiếu* • cách là một tập hợp các sáng tác thơ trong thời gian một năm tròn đủ tư cách là một chỉnh thể độc lập bậc thấp, trong đó mỗi một bài thơ là một yếu tố của chỉnh thể đó.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ