Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp ngành Hán Nôm với đề tài "Tuần Cai biệt thự hợp tập (Q.10) - Bước đầu khảo sát, phiên dịch, chú thích, giới thiệu văn bản và nhận xét về phong cách nghệ thuật" do sinh viên Phùng Minh Hiếu thực hiện tại Khoa Văn học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Nguyễn Văn Thịnh. Nghiên cứu được hoàn thành trong thời gian 3 tháng (từ ngày 24/02/2004 đến ngày 28/05/2004).
Bối cảnh thực tiễn và lý do chọn đề tài xuất phát từ các thực trạng thư tịch sau:
- Mảng di sản văn học thời Nguyễn tuy đã được quan tâm nghiên cứu nhưng chưa toàn diện; một số lượng lớn tác phẩm thơ văn Hán Nôm giai đoạn này vẫn chưa được phiên dịch và công bố, trong đó có bộ tổng tập Tuần Cai biệt thự hợp tập của tác giả Nguyễn Phúc Hồng Y.
- Xu hướng nghiên cứu, bảo tồn lịch sử - văn hóa cố đô Huế và văn học cung đình triều Nguyễn ngày càng được chú trọng. Tác giả Nguyễn Phúc Hồng Y (1833 - 1877), tự Quân Bác, tước phong Kiến Thụy công (sau truy tặng Kiến Thụy quận vương), là hoàng tử thứ tư của vua Thiệu Trị. Các sáng tác của ông gắn liền với không gian cung đình dưới triều vua Tự Đức, từng được vua Tự Đức và Tuy Lý vương Miên Trinh ca ngợi.
- Bộ tổng tập Tuần Cai biệt thự hợp tập chưa từng được chuyển dịch trọn vẹn sang tiếng Việt hiện đại (trước đó chỉ có công trình luận văn thạc sĩ của tác giả Vũ Huy Vĩ tiếp cận dưới hình thức tuyển dịch).
Nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể gồm:
- Tiếp cận, khảo sát và giám định văn bản học đối với bản in và bản viết của Tuần Cai biệt thự hợp tập, tập trung trực tiếp vào quyển thơ số 10.
- Thực hiện phiên âm Hán Việt, dịch nghĩa và chú thích văn bản học trọn vẹn toàn bộ 51 bài thơ chữ Hán trong quyển 10.
- Thống kê, phân loại toàn bộ kho từ vựng của 51 bài thơ để lập bảng tra cứu từ điển ngữ nghĩa.
- Phân tích các đặc điểm nghệ thuật ngôn từ, niêm luật bằng trắc, cách thức hiệp vần, cấu trúc nhạc điệu và phân loại mảng đề tài sáng tác của tác giả.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng: Quyển thơ số 10 (gồm 51 bài thơ chữ Hán) nằm trong tập 3 của bộ Tuần Cai biệt thự hợp tập.
- Phạm vi không gian tư liệu: Khảo sát trực tiếp các văn bản lưu trữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm (Hà Nội) và tư liệu ván khắc, bản chép tay tại Huế.
- Phạm vi thời gian tác phẩm: Quyển thơ số 10 tập hợp toàn bộ các thi phẩm được Nguyễn Phúc Hồng Y sáng tác trong năm Canh Thân 1860 (niên hiệu Tự Đức thứ 13, khi tác giả 27 tuổi).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận vận dụng hệ thống lý thuyết về văn bản học Hán Nôm, thi pháp học trung đại và thi từ cách luật truyền thống. Cụ thể:
-
Khung lý thuyết và công cụ tra cứu: Sử dụng các quy chuẩn giám định chữ húy triều Nguyễn từ công trình Nghiên cứu chữ húy Việt Nam qua các triều đại của Ngô Đức Thọ (Emmanuel Poisson dịch và chú giải); tra cứu thư mục theo Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu; đối chiếu tiểu sử theo Đại Nam liệt truyện, Nguyễn Phúc tộc thế phả; lý thuyết cách luật thơ ca dựa trên công trình Thi từ cách luật của Vương Lực cùng các khảo cứu thi pháp của Quách Tấn, Nguyễn Phan Cảnh, Trần Đình Sử, Cao Hữu Công, Mai Tổ Lân.
-
Phương pháp nghiên cứu thực tế:
- Phương pháp văn bản học: Khảo sát xuất xứ, đối chiếu dị bản, xác định niên đại khắc in thông qua tự dạng, thể thức trình bày (đài chữ/du cách), hiện tượng kiêng húy và dấu vết ván khắc.
- Phương pháp phiên dịch và chú giải Hán Nôm: Thực hiện phiên âm Hán Việt, dịch nghĩa văn bản và chú thích các điển tích, địa danh, nhân vật lịch sử.
- Phương pháp thống kê - phân loại: Thống kê toàn bộ số lượng bài thơ trong 25 quyển của toàn bộ thi tập; lập bảng thống kê phân loại thể loại thơ (cổ thể, kim thể), mô hình khởi thức, thanh vận và các trường hợp phá luật (áo cú); thống kê lập danh mục từ vựng toàn văn quyển 10.
- Phương pháp phân tích thi pháp học và ngữ nghĩa: Phân tích sự phân bố bằng trắc, cách tổ chức từ ngữ, mối liên hệ giữa thể loại và đề tài thơ cung đình.
-
Nguồn dữ liệu:
- Bản in Tuần Cai biệt thự hợp tập mang ký hiệu A.2985 (gồm 4 tập, 608 trang, kích thước khổ giấy 27,5 cm, gốc từ Viện Viễn Đông Bác cổ EFEO).
- Bản viết Tuần Cai biệt thự hợp tập mang ký hiệu A.377 (gồm 1 tập, 472 trang, dạng sao chụp).
- Bản chép tay tư gia của gia đình ông Nguyễn Quí Tiết tại thành phố Huế.
- Tư liệu dập in ván khắc tập thơ Vi Dã hợp tập của Tuy Lý vương Miên Trinh tại phủ Tuy Lý vương (Huế) do nhóm sinh viên Hán Nôm K45 thực địa tháng 3/2004.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Quyển thơ số 10 trong “Tuần Cai biệt thự hợp tập” của Quân Bác, vài nét nhìn từ góc độ văn bản học
Chương 1 đi sâu khảo cứu các khía cạnh văn bản học của bộ sách nói chung và quyển thơ số 10 nói riêng thông qua việc phân tích cấu trúc, xuất xứ, người biên tập, chữ húy và đặc điểm khắc in.
| Tiêu chí |
Bản in (Ký hiệu: A.2985) |
Bản viết (Ký hiệu: A.377) |
| Số tập / Số trang |
4 tập (608 trang) |
1 tập (472 trang) |
| Khổ giấy |
27,5 cm |
Khổ giấy A4 |
| Nguồn gốc lưu trữ |
Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm (nguồn EFEO) |
Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm (sao chép lại) |
| Tình trạng văn bản |
Khá nguyên vẹn; tập 1 bị xáo trộn và thiếu trang do đóng lại |
Đầy đủ nội dung các trang bị khuyết ở tập 1 bản in |
Về cơ cấu toàn bộ bộ sách, tác phẩm gồm hai phần chính:
- Tuần Cai biệt thự văn sao (2 quyển văn xuôi, phú, văn tế, biểu, tụng).
- Tuần Cai biệt thự thi sao (25 quyển thơ, ghi chép liên tục sáng tác trong 26 năm từ năm 1851 đến năm 1876, từ khi tác giả 18 tuổi đến 43 tuổi).
Quá trình hình thành văn bản được tác giả chia làm 3 giai đoạn:
- Giai đoạn sáng tác từng năm của Quân Bác (từ 1851 đến trước khi mất năm 1877). Năm 1874 (Tự Đức 27), Tuy Lý vương Miên Trinh viết bài tựa Kiến Thụy công thi tập tự.
- Nguyễn Phúc Ưng Hinh (con trưởng của tác giả, hiệu Mạnh Minh, tập phong Kiến Thụy huyện công) tiến hành tập hợp, hiệu đính toàn bộ bản thảo sau khi tác giả qua đời. Khóa luận làm rõ sự hoán đổi tên gọi Ưng Hinh/Ưng Khánh do đổi từ bộ Hương (香) sang bộ Thạch (石) để tránh húy bà Học Phi Nguyễn Thị Hương.
- Bản thảo sau khi "tập đính" được tổ chức khắc in thành bộ sách Tuần Cai biệt thự hợp tập.
Khảo sát hệ thống chữ húy trong 17 tờ (34 trang) của quyển thơ 10 ghi nhận:
- Nhóm chữ kiêng húy thời Tự Đức trở về trước: Chữ hồng (弘) và tuyền (泉) được viết bớt nét; chữ thì (時) được đổi viết thành chữ thìn (辰) (đây là cách đổi dạng theo lệ thời Thành Thái hoặc quy phạm hóa thói quen dùng chữ đồng nghĩa chỉ thời khắc từ thời Tự Đức). Chữ vinh (榮) và dung (庸) không thấy áp dụng kiêng nét.
- Các chữ húy thuộc lệnh năm 1861 (an, cần, đặc, đôi, hiểu, thư, tùng, viên) và các chữ húy sau thời Tự Đức (anh, chiếu, hương) đều viết chữ nguyên dạng, không kiêng húy. Dữ liệu chữ húy này cho thấy khả năng bản in được khắc vào thời Thành Thái, hoặc văn bản phản ánh hiện tượng kiêng húy không triệt để.
Về hiện tượng các ô vuông đen trên bản in A.2985 (xuất hiện ở cột 4 tờ 3a và cột 6 tờ 4b): Dựa trên việc đối chiếu thực tế kỹ thuật khắc in bộ ván khắc Vi Dã hợp tập tại Huế, tác giả khẳng định đây là dấu vết của các miếng gỗ nhỏ chêm vào chỗ chữ khắc sai bị bào đi, hoàn toàn không phải ký hiệu kiêng húy. Đối chiếu bản viết A.377 đã phục hồi được ô vuông đen tại cột 6 tờ 4b là chữ minh (鳴).
Về số lượng sáng tác qua 25 quyển thơ: Quyển 10 (năm 1860) có số lượng 51 bài thơ, là quyển có số lượng bài thơ phong phú nhất trong toàn bộ 25 quyển thơ của Nguyễn Phúc Hồng Y (các quyển khác dao động từ 14 đến 48 bài).
Chương 2: Bước đầu tiếp cận “Tuần Cai biệt thự hợp tập” (Q.10) với tư cách một văn bản nghệ thuật ngôn từ
Chương 2 tập trung khảo sát 51 bài thơ dưới góc độ thi pháp hình thức, luật thơ, kho từ vựng và mảng đề tài.
Cơ cấu thể loại của 51 bài thơ trong quyển 10 gồm:
| Phân loại lớn |
Thể loại cụ thể |
Số lượng bài |
Ghi chú thi luật |
| Thơ kim thể (cận thể) |
Ngũ ngôn bát cú (Ngũ luật) |
13 bài |
1 bài trắc khởi thức nhập vận (bài 24); 12 bài trắc khởi thức bất nhập vận (6 bài chuẩn luật, 6 bài phá luật có bổ cứu). |
|
Thất ngôn bát cú (Thất luật) |
14 bài |
1 bài bằng khởi thức bất nhập vận (bài 48); 6 bài bằng khởi thức nhập vận; 7 bài trắc khởi thức nhập vận. |
|
Ngũ ngôn bài luật |
03 bài |
Bài 14 (8 vần), bài 40 (12 vần), bài 45 (8 vần). |
|
Thất ngôn tứ tuyệt (Thất tuyệt) |
10 bài |
4 bài bằng khởi thức nhập vận; 6 bài trắc khởi thức nhập vận. |
| Thơ cổ thể (cổ phong) |
Ngũ ngôn tứ tuyệt (Ngũ tuyệt) |
03 bài |
Bài 12 gieo vần trắc; bài 11, 13 gieo vần bằng nhưng không theo niêm luật cận thể (thuộc cổ tuyệt). |
|
Ngũ ngôn cổ phong (Ngũ cổ) |
02 bài |
Bài 31 (vận bộ chức, nhập thanh); bài 35 (vận bộ chỉ, thướng thanh). Nhận diện qua mô hình 3 chữ cuối (BBB, TTT, BTB, TBT). |
|
Thất ngôn cổ phong (Thất cổ) |
06 bài |
Bài 2, 36, 37, 38 (cổ phong nhập luật, nửa trên vần trắc, nửa dưới vần bằng); bài 27 (bát cú vần bằng); bài 6 (3 lần chuyển vần: tập - nguyên - mạch - vi). |
Khóa luận phân tích chi tiết các trường hợp phá luật (áo cú) và cơ chế bổ cứu:
- Trường hợp phá luật tự bổ cứu hoặc bổ cứu ở câu đối ứng theo tiền lệ thơ Đường: Câu 7 bài 17 (Thư thanh nhất đăng bích), hai câu đầu bài 21 (Hàn cụ bất nhập khẩu / Nhiệt trường nan tự câm), liên ba bài 4 (Nhật nguyệt hốt âm ế / Phong vân như hộ trì), liên đầu bài 25 và bài 50.
- Trường hợp "bổ cứu nửa vời" dựa trên tính đa âm/đa thanh của văn tự: Dùng chữ có hai thanh bằng - trắc tùy ngữ cảnh để dung hòa luật thi như chữ trúng/trung (câu 8 bài 5), chữ lương/trưởng (câu 8 bài 26), chữ thắng/thăng (câu 7 bài 33), chữ tư/tứ (câu 1 bài 15).
- Nhận xét về nhạc điệu: 27 bài thơ luật (ngũ luật và thất luật) chỉ xoay quanh 3 mô hình cấu trúc bằng trắc cố định, tạo nên âm hưởng thi ca phẳng lặng, trang nhã, nghiêm cẩn và ít biến thiên.
Về phân loại mảng đề tài sáng tác: 51 bài thơ phản ánh tính chất quy phạm của thơ ca cung đình trung đại qua các nhóm chủ đề:
- Thơ vịnh cảnh: Vịnh núi (Sơn phòng xuân hiểu, Ngọc Trản sơn, Thu sơn), vịnh trăng (Thủy nguyệt, Hồ thượng đãi nguyệt đắc tam thủ).
- Thơ yến ẩm, thù tạc lầu gác: Các buổi tụ tập xướng họa cùng huynh đệ, bạn hữu (Khách đình đối vũ, Khách đình tiểu tập, Thu tiêu yến tập tửu lan mạn hứng họa hữu nhân vận).
- Thơ vịnh vật: Cỏ cây, hoa lá, đồ vật sinh hoạt (Phú đắc Thiên ý liên u thảo, Tịnh đầu lan, Mạt lệ từ, Thái liên khúc, Thực hàn cụ, Đề Bạch Hào Tử mẫu đơn phiến đầu).
- Thơ vịnh người và vịnh sử: Tiều phu từ, Mục đồng từ (thuộc mô típ truyền thống ngư tiều canh mục); vịnh nhân vật lịch sử như Hán Trung, Trương Tử Phòng, Hán Cao Tổ.
- Thơ ứng chế và chúc thọ: Họa vần thơ vua Tự Đức (Cung họa ngự chế Canh tịch nguyên vận ứng chế, Cung họa ngự chế Hỉ vũ nguyên vận ứng chế), chúc thọ thân tộc (Phạm Phò mã mẫu thất thập thọ thi).
- Thơ vô đề: Các bài thơ ký thác tâm sự kín đáo (Thượng Thương Sơn tiên sinh tam thủ, Vô đề, Tạp ngôn tam thủ).
Kết quả và đóng góp
- Về mặt văn bản học: Xác định rõ ràng lai lịch hình thành bộ sách, vai trò tập đính của trưởng tử Nguyễn Phúc Ưng Hinh, giải mã cơ cấu 25 quyển thơ và 2 quyển văn. Khóa luận lần đầu tiên giải trình căn nguyên kỹ thuật tạo ra các ô vuông đen trên bản in A.2985 thông qua việc so sánh đối chiếu với ván khắc Vi Dã hợp tập tại phủ Tuy Lý vương và bản viết A.377.
- Về mặt dịch thuật và công bố tư liệu: Dịch nghĩa, phiên âm Hán Việt và chú giải văn bản học đầy đủ, chuẩn xác lần đầu tiên cho toàn bộ 51 bài thơ chữ Hán trong quyển 10 thuộc Tuần Cai biệt thự hợp tập.
- Về mặt công cụ tra cứu: Xây dựng hoàn chỉnh một bảng tra từ ngữ dưới dạng từ điển cho toàn bộ chữ nghĩa xuất hiện trong 51 bài thơ, phân loại tầng nghĩa và tần suất sử dụng từ vựng.
- Về mặt nghiên cứu thi pháp: Làm sáng tỏ các đặc trưng niêm luật của thơ cổ thể và kim thể thời Nguyễn, chỉ ra các thao tác phá luật, bổ cứu ngữ âm và tính quy phạm ước lệ về đề tài của một tác gia cung đình tiêu biểu.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Nghiên cứu mới chỉ giới hạn khảo sát trên một mẫu tư liệu là quyển thơ số 10 (51 bài thơ của năm 1860) trong tổng thể 25 quyển thơ và 2 quyển văn của bộ hợp tập. Do điều kiện thời gian 3 tháng, tác giả chưa thể khảo sát toàn diện bản chép tay tại gia đình ông Nguyễn Quí Tiết (Huế) cũng như chưa giải quyết triệt để vấn đề thời điểm khắc in chính xác của toàn bộ 4 tập sách A.2985.
- Hướng mở: Tiếp tục dịch thuật, chú giải trọn vẹn 24 quyển thơ còn lại và phần văn xuôi của Tuần Cai biệt thự hợp tập; mở rộng nghiên cứu chữ húy và đối chiếu văn bản học trên toàn bộ hệ thống ván khắc triều Nguyễn để xác định niên đại in ấn chính xác; sử dụng các tiêu chí thi pháp đã rút ra từ quyển 10 làm "thuốc thử" để đối chiếu, khái quát phong cách nghệ thuật chung của nhóm tác gia cung đình thời Thiệu Trị - Tự Đức.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng: Tài liệu phục vụ trực tiếp cho sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Hán Nôm, Văn học trung đại Việt Nam, Lịch sử triều Nguyễn và Văn hóa cung đình Huế.
- Giá trị khai thác:
- Phần Phụ lục 2 cung cấp bản dịch và chú giải trọn vẹn 51 bài thơ chữ Hán, là nguồn tư liệu tin cậy cho việc tuyển chọn, giảng dạy văn học thời Tự Đức.
- Phần Phụ lục 3 với bảng tra từ điển ngữ nghĩa là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nghiên cứu ngôn ngữ học lịch sử và thi pháp từ vựng thi ca trung đại.
- Quy trình khảo cứu văn bản học trong Chương 1 là mẫu thao tác thực hành chuẩn mực về phương pháp giám định chữ húy, so sánh dị bản và xử lý lỗi khắc in trên mộc bản Hán Nôm.
Câu hỏi thường gặp
1. Tác giả Nguyễn Phúc Hồng Y có vị trí như thế nào trong bối cảnh văn học triều Nguyễn?
Nguyễn Phúc Hồng Y (1833 - 1877), tự Quân Bác, là hoàng tử thứ tư của vua Thiệu Trị. Ông là tác gia tiêu biểu của bộ phận văn học cung đình thời Nguyễn, sáng tác trọn vẹn dưới thời Tự Đức. Thơ văn của ông được vua Tự Đức và Tuy Lý vương Miên Trinh đánh giá cao, phản ánh sinh hoạt nghệ thuật tao nhã chốn hoàng tộc.
2. Bản in "Tuần Cai biệt thự hợp tập" ký hiệu A.2985 có kết cấu và số lượng như thế nào?
Bản in A.2985 gồm 4 tập với tổng cộng 608 trang, khổ giấy 27,5 cm. Bộ sách gồm 2 phần: Tuần Cai biệt thự văn sao (2 quyển) và Tuần Cai biệt thự thi sao (25 quyển thơ ghi chép sáng tác trong 26 năm từ 1851 đến 1876). Quyển thơ số 10 nằm ở đầu tập 3, gồm 17 tờ (34 trang).
3. Quyển thơ số 10 gồm bao nhiêu bài và được sáng tác vào năm nào?
Quyển thơ số 10 gồm đúng 51 bài thơ chữ Hán (bao gồm cả cổ thể và kim thể), được Nguyễn Phúc Hồng Y sáng tác trong năm Canh Thân 1860 (Tự Đức thứ 13), khi tác giả 27 tuổi. Đây là quyển thơ có số lượng tác phẩm nhiều nhất trong số 25 quyển thơ của ông.
4. Dấu vết các ô vuông đen trên bản in A.2985 phản ánh điều gì về mặt kỹ thuật mộc bản?
Các ô vuông đen xuất hiện ở cột 4 tờ 3a và cột 6 tờ 4b không phải là ký hiệu chữ húy, mà là dấu vết của những mẩu gỗ nhỏ hình vuông được người thợ khắc chêm vào sau khi bào bỏ phần chữ bị khắc sai trên ván in. Đối chiếu với bản chép tay A.377, vị trí ô vuông đen ở tờ 4b được xác định chính xác là chữ minh (鳴).
5. Người làm công tác biên tập, hiệu đính cho "Tuần Cai biệt thự hợp tập" là ai?
Người thực hiện công tác tập đính (biên tập, hiệu đính) cho bộ sách là Nguyễn Phúc Ưng Hinh (hiệu Mạnh Minh, tập phong Kiến Thụy huyện công), con trai trưởng của tác giả Hồng Y Quân Bác. Công việc tập đính được thực hiện sau khi tác giả qua đời và hoàn tất trước khi đưa khắc in.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của Phùng Minh Hiếu là công trình nghiên cứu nghiêm túc, xử lý thấu đáo và khoa học một đơn vị văn bản Hán Nôm cụ thể là quyển thơ số 10 trong Tuần Cai biệt thự hợp tập. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa thao tác văn bản học thực chứng, kỹ thuật dịch thuật chú giải chuẩn mực và phương pháp phân tích thi pháp cách luật chi tiết, tác giả đã khôi phục diện mạo thi phẩm của tác gia hoàng tộc Nguyễn Phúc Hồng Y. Công trình không chỉ cung cấp bản dịch hoàn chỉnh kèm bảng tra từ vựng giá trị cho 51 bài thơ chữ Hán năm 1860 mà còn đóng góp cứ liệu quan trọng cho việc nghiên cứu diện mạo văn học cung đình Huế giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX.