CHƯƠNG 1 Ở chương này, khóa luận đã trình bày cho người đọc có được cái nhìn tổng quát về các vấn đề nghiên cứu cũng như đưa ra những vấn đề cơ bản nhất của nghiên cứu như lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa và hạn chế của việc nghiên cứu. Bên cạnh đó, khóa luận còn đưa ra các phương pháp sơ lược cũng như cách thiết kế bố cục bài khóa luận, từ đó làm cơ sở cho việc tiếp tục nghiên cứu các chương tiếp theo. 22 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2. Khái niệm rủi ro tín dụng Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về rủi ro tín dụng.
Theo (Bessis, 2010), rủi ro tín dụng là rủi ro bị tổn thất do người đi vay không thanh toán được nợ hoặc mất khả năng thanh toán dẫn đến vỡ nợ. Rủi ro vỡ nợ là rủi ro mà người đi vay không thực hiện đúng nghĩa vụ nợ của mình dẫn đến gây ra tổn thất toàn bộ hoặc một phần số tiền của bên cho vay. Rủi ro tín dụng cũng đề cập đến tình trạng tín dụng của người đi vay xấu đi, điều này không có nghĩa là vỡ nợ ngay, nhưng khả năng vỡ nợ sẽ cao hơn. Giá trị ghi sổ của khoản vay không thay đổi khi chất lượng tín dụng của người đi vay suy giảm, nhưng giá trị đem lại cho nền kinh tế thấp hơn do khả năng vỡ nợ tăng lên.
Đối với một khoản nợ đã giao dịch, một sự giao dịch bất lợi sẽ làm giảm giá niêm yết của nó. Rủi ro tín dụng là mối quan tâm khi một tổ chức bị nợ tiền hoặc phải dựa vào một tổ chức khác để thanh toán cho tổ chức đó hoặc thay mặt tổ chức đó. Sự thất bại của một bên đối tác là vấn đề khi tổ chức không nợ tiền trên cơ sở ròng, mặc dù nó phụ thuộc vào một mức độ nhất định vào môi trường pháp lý và liệu khoản tiền được nợ trên cơ sở ròng hay tổng hợp trên các hợp đồng cá nhân. Sự suy giảm chất lượng tín dụng, chẳng hạn như chất lượng tín dụng của một tổ chức phát hành chứng khoán, cũng là một nguồn rủi ro thông qua việc giảm giá trị thị trường của chứng khoán mà một tổ chức có thể sở hữu.
Theo hiệp ước Basel II (2006), RRTD là khả năng mà một người đi vay ngân hàng sẽ không thực hiện được nghĩa vụ của mình theo các điều khoản đã thỏa thuận. Rủi ro tín dụng sẽ dẫn đến những tổn thất về tài chính và các tổn thất về hiệu quả kinh doanh cho cả ngân hàng và khách hàng. Từ các định nghĩa nêu trên, có thể hiểu rằng rủi ro tín dụng là các tổn thất phát sinh từ việc khách 23 hàng không trả được đầy đủ cả gốc và lãi của khoản vay hoặc khách hàng thanh toán nợ gốc và lãi không đúng hạn sau khi được cấp các khoản tín dụng (cả trong và ngoại bảng). Rủi ro tín dụng xảy ra không chỉ giới hạn ở hoạt động cho vay mà còn bao gồm nhiều hoạt động mang tính chất tín dụng khác của ngân hàng như: bảo lãnh, cam kết, chấp thuận tài trợ thương mại, cho vay ở thị trường liên ngân hàng, những chứng khoán có giá (trái phiếu, cổ phiếu …), trái quyền, Swaps, tín dụng thuê mua, đồng tài trợ… Khi gặp rủi ro tín dụng, ngân hàng không thu được vốn tín dụng đã cấp bao gồm gốc và lãi cho vay, nhưng ngân hàng phải trả vốn và lãi cho khoản tiền huy động từ khách hàng khi đến hạn, điều này làm cho ngân hàng mất cân đối trong việc thu chi.
Khi không thu được nợ thì vòng quay vốn tín dụng giảm làm cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng không có hiệu quả. Khi gặp phải rủi ro tín dụng, ngân hàng thường rơi vào tình trạng mất khả năng thanh khoản, làm mất lòng tin đối với người gửi tiền, ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng sau này. Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng Theo (Bessis, 2010), rủi ro tín dụng xảy ra không chỉ xuất phát từ nguyên nhân bên trong ngân hàng mà còn bao gồm cả nguyên nhân bên ngoài. Nguyên nhân bên trong Rủi ro tín dụng xuất phát từ nguyên nhân bên trong của ngân hàng, bao gồm như chính sách tín dụng, quản lý hoạt động yếu kém, cho vay ồ ạt,… Một trong những nguyên nhân chính gây ra rủi ro tín dụng là thuộc về đạo đức, trình độ chuyên môn của nhân viên ngân hàng.
Nhân viên ngân hàng thiếu trách nhiệm, có trình độ năng lực yếu, đạo đức yếu kém dẫn tới cho vay với những doanh nghiệp, cá nhân không đủ điều kiện vay vốn có hoạt động yếu kém với những hồ sơ tín dụng có vấn đề. Điều này được khẳng định trong nghiên cứu của (Berger & DeYoung, 1997) khi cho rằng nợ xấu gia tăng là do sự yếu kém trong quy trình thẩm định tín dụng trước, trong và sau khi cho vay dẫn đến việc ngân hàng lựa chọn sai khách hàng cho vay (khách hàng vay không đủ điều kiện vay vốn). Ngoài ra, rủi ro tín dụng còn xảy ra do nhân viên ngân hàng năng lực chuyên môn, hay do đạo đức yếu kém trong bảo đảm tiền vay không đánh giá đúng giá trị tài sản đảm bảo hoặc 24 giá trị tài sản thế chấp có biến động theo chiều hướng xấu. Ngoài ra, còn có các nguyên nhân như chính sách của ngân hàng cho vay không phù hợp, các quy định trong cho vay, thẩm định kiểm tra tín dụng chưa phù hợp thiếu chặt chẽ, sự kiểm soát trong các hoạt động cho vay, các khâu trong quá trình cho vay chưa chặt chẽ, việc tuân thủ quy định về đảm bảo an toàn vốn hoặc đặt mục tiêu lợi nhuận quá cao.
Theo (Berger & DeYoung, 1997) còn cho rằng do ngân hàng dành ít nguồn lực cho quá trình thẩm định và giám sát khoản vay điều đó sẽ làm tăng hiệu quả chi phí hoạt động trong ngắn hạn nhưng đánh đổi mức rủi ro nợ xấu cao trong tương lai. Ngân hàng có quy trình cho vay thực hiện chặt chẽ theo đúng quy định của ngân hàng thì sẽ giảm được rủi ro tín dụng, tăng khả năng sinh lời cho ngân hàng (Li, 2016). Hay (Das & Ghosh, 2007) cho rằng nguyên nhân dẫn tới rủi ro tín dụng là do các ngân hàng chưa tuân thủ quy định bảo đảm an toàn vốn. Nguyên nhân bên ngoài Ngoài nguyên nhân xảy ra từ bên trong ngân hàng, rủi ro tín dụng còn xuất phát từ nguyên nhân bên ngoài dưới góc độ vĩ mô của ngân hàng như sự thay đổi chính sách tiền tệ, hệ thống pháp luật, lạm phát… gây ra sự bất lực của những người tham gia thị trường tài chính trong việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ nới rộng tín dụng (Fukuda, 2012); (Giesecke & Kim, 2011); (Nijskens & Wagner, 2011).
Nguyên nhân này xuất hiện đột ngột, khó đoán, khó kiểm soát, nó thường gây ra những thiệt hại lớn cho khách hàng và ngân hàng cho vay. Cụ thể: - Do sự thay đổi chính sách của Chính phủ : Khi mà nền kinh tế biến động như lạm phát, thất nghiệp…thì lập tức chính phủ phải đưa ra các chính sách kinh tế mới phù hợp với điều kiện hiện hành nhằm hạn chế ảnh hưởng xấu tới nền kinh tế đất nước. Các chính sách của chính phủ thường xuyên quan tâm và có sự thay đổi kịp thời như là chính sách tài chính, tiền tệ, chính sách đầu tư phát triển. Đây là những chính sách chính phủ điều chỉnh sẽ gây ảnh hưởng trực tiếp cho các ngân hàng thương mại.
Các chính sách vĩ mô này có ảnh hưởng tới rủi ro tín dụng của ngân hàng. (Yurdakul, 2014) cho rằng các yếu tố vĩ mô như lạm phát, thất nghiệp, tốc độ tăng trưởng GDP có ảnh hưởng tới rủi ro tín dụng của ngân hàng. - Nguyên nhân từ phía môi trường pháp lý: (Wang, 2013) cho rằng nguyên nhân dẫn tới sự vỡ nợ 25 của khách hàng vay vốn từ sự chính sách pháp luật thiếu đồng bộ, từ sự yếu kém trong kinh doanh từ đó dẫn tới rủi ro tín dụng ngân hàng. Hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại liên quan đến nhiều lĩnh vực của nền kinh tế, mang tính xã hội cao, khi hệ thống pháp luật ổn định và lành mạnh thì môi trường kinh doanh của ngân hàng thương mại sẽ có nhiều thuận lợi.
Ngược lại nếu môi trường pháp lý thiếu đồng bộ, có nhiều khe hở thì rất dễ bị lợi dụng gây ra tình trạng tham ô, chiếm đoạt tài sản… Kinh tế xã hội kém ổn định dẫn đến kinh doanh gặp nhiều khó khăn, người phải trả tiền không trả được nó kéo theo những người khác bị vỡ nợ không trả được ngân hàng. - Môi trường tự nhiên: Những biến động lớn về thời tiết, khí hậu gây ảnh hưởng hoạt động sản xuất kinh doanh đặc biệt là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, điều kiện tự nhiên là yếu tố khó dự đoán, nó thường xảy ra bất ngờ với thiệt hại lớn ngoài tầm kiểm soát của con người. Vì vậy khi có thiên tai dịch hoạ xảy ra khách hàng cùng các ngân hàng cho vay sẽ có nguy cơ tổn thất lớn, phương án, dự án kinh doanh không có nguồn thu … Điều đó đồng nghĩa với các ngân hàng cho vay phải cùng chia sẽ rủi ro với khách hàng của mình (Wang, 2013). - Môi trường kinh tế xã hội: Theo như (Wang, 2013) thì môi trường kinh tế xã hội trong một nước biến động chịu ảnh hưởng của những biến động từ nền kinh tế thế giới, đó là nguyên nhân làm phát sinh rủi ro trong hoạt động kinh doanh của nền kinh tế, từ đó ảnh hưởng tới các lĩnh vực kinh tế trong đó hoạt động kinh doanh tiền tệ chứa nhiều nguy cơ rủi ro lớn nhất.
Sự thay đổi các mối quan hệ quốc tế, các quan hệ ngoại giao của chính phủ cũng là nguyên nhân gây ra rủi ro lớn cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng, gây rủi ro cho vay của ngân hàng. - Sự yếu kém của người vay trong hoạt động kinh doanh, hành vi đạo đức của người vay (lừa đảo, vi phạm pháp luật, .) cũng gây ra những tổn thất cho ngân hàng và nếu ngân hàng phát hiện sớm thì rủi ro sẽ được ngăn chặn. Điều này được khẳng định trong nghiên cứu của (Wang, 2013) khi cho rằng sự thất bại trong kinh doanh của khách hàng (sự yếu kém về tổ chức hoạt động kinh doanh) dẫn đến việc khách hàng không trả được nợ cho ngân hàng và ngân hàng bị rủi ro tín dụng.