chương 1 cũng trình bày rõ ý nghĩa đề tài nghiên cứu, không gian và thời gian, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu và cấu trúc khoá luận. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Nợ xấu của ngân hàng thương mại Hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau về nợ xấu, nợ xấu “Non-performing loan” (NPL) được hiểu là các khoản nợ dưới chuẩn, có thể bị quá hạn và bị nghi ngờ về khả năng trả nợ của khách hàng. Một số quan điểm về nợ xấu: Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF): “Nợ xấu gồm các khoản nợ quá hạn trả lãi và/ hoặc gốc 90 ngày hoặc hơn; khi các khoản lãi suất quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã được vốn hóa, cơ cấu lại hoặc trì hoãn theo thỏa thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng có thể nhận thấy những dấu hiệu rõ ràng cho thấy người vay sẽ không thể hoàn trả đầy đủ (người vay phá sản).
Sau khi khoản vay được xếp vào danh mục nợ xấu, nó hoặc bất cứ khoản vay thay thế nào cũng nên được xếp vào danh mục nợ xấu cho đến thời điểm phải xóa nợ hoặc thu hồi được lãi và gốc của khoản vay đó hoặc thu hồi khoản thay thế. Theo chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS): Chuẩn mực kế toán về ngân hàng thường đề cập các khoản nợ bị giảm giá trị (Impairred) thay vì sử dụng thuật ngữ nợ xấu (NPL). Chuẩn mực kế toán IAS 39 công bố tháng 12 năm 1999 và sau 2 lần chỉnh sửa (lần 1 vào tháng 12 năm 2000 và lần 2 đầu tháng 12 năm 2003) được khuyến cáo áp dụng ở một số nước phát triển vào đầu năm 2005 chỉ ra rằng cần phải có bằng chứng khách quan để xếp hạng một khoản vay có dấu hiệu bị giảm giá trị. Trong trường hợp nợ bị giảm giá trị thì tài sản được ghi nhận sẽ bị giảm xuống do những tổn thất chất lượng nợ xấu gây ra.
Về cơ bản IAS 39 chú trọng đến khả năng hoàn trả của khoản vay bất luận thời gian quá hạn chưa tới 90 ngày hoặc chưa quá hạn. Phương pháp này để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng và là phương pháp phân tích dòng tiền trong tương lai hoặc xếp hạn khoản vay. Hệ thống này được coi là chính xác về mặt lý thuyết nhưng việc áp dụng thực tế gặp nhiều khó khăn. Theo Ủy ban basel về giám sát Ngân hàng (BCDS): Trong các hướng dẫn 8 về các thông lệ chung tại nhiều quốc gia về quản lý rủi ro tín dụng, BCBS xác định việc các khoản nợ được cho là không có khả năng hoàn trả khi một trong hai hoặc cả hai sự kiện sau đây xảy ra: Ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi; người vay đã quá hạn trả nợ quá 90 ngày.
(Basel committee on banking Supervision, 2002) BCDS cũng đề cập tới các khoản vay bị giảm giá trị sẽ xảy ra khi khả năng thu hồi các khoản thanh toán từ khoản vay là không thể. Giá trị tổn thất sẽ được ghi nhận bằng cách giảm trừ giá trị khoản vay thông qua một khoản dự phòng và sẽ được phản ánh trên báo cáo thu nhập của ngân hàng. Như vậy, lãi suất của các khoản vay này sẽ không được cộng dồn và sẽ chỉ xuất hiện dưới dạng tiền mặt thực tế nhận được. Tại Việt Nam, theo thông tư số 11/2021/TT-NHNN ra ngày 30/07/2021 “Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài” đã thay thế Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013, Thông tư 09/2014/TT- NHNN ngày 18/03/2014.
Tuy có nhiều khái niệm khác nhau nhưng nhìn chung các khái niệm nợ xấu về cơ bản cũng được xác định dựa trên hai yếu tố: (i) Các khoản dư nợ đã quá hạn từ 90 ngày trở lên; (ii) Khả năng trả nợ của khách hàng được xếp vào loại nghi ngờ về khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ. Trong bài nghiên cứu tác giả tính toán tỷ lệ nợ xấu là những khoản nợ nhóm 3, nhóm 4 và nhóm 5 trên tổng dư nợ NHTM. Phân loại nợ và phương pháp đánh giá nợ xấu 2. Phân loại nợ Theo Ɖiều 10 thông tư số 11/2021/TT-NHNN thông tư số 11/2021/TT-NHNN về việc phân loại nợ và cam kết ngoại bảng theo phương pháp định lượng thì tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện phân loại nợ (trừ các khoản trả thay theo cam kết ngoại bảng) theo 05 nhóm như sau: a) Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: – Khoản nợ trong hạn và và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và 9 lãi đúng hạn.
– Khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi còn lại đúng thời hạn – Khoản nợ được phân loại vào nhóm 1 theo quy định tại Khoản 2 Ɖiều này. b) Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm: – Khoản nợ quá hạn đến 90 ngày, trừ khoản nợ quy định tại điểm a (ii) Khoản này, khoản 3 Ɖiều này. – Khoản nợ được điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu còn trong hạn, trừ khoản nợ quy định tại điểm b khoản 2, khoản 3 Ɖiều này. – Khoản nợ được phân loại vào nhóm 2 theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Ɖiều này.
c) Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: – Khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày, trừ khoản nợ quy định tại khoản 3 Ɖiều này. – Khoản nợ gia hạn nợ lần đầu còn trong hạn, trừ khoản nợ quy định tại điểm b khoản 2, khoản 3 Ɖiều này. – Khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo thỏa thuận, trừ khoản nợ quy định tại khoản 3 Ɖiều này. – Khoản nợ thuộc một trong các trường hợp sau đây chưa thu hồi được trong thời gian dưới 30 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi.
– Khoản nợ vi phạm quy định tại các khoản 1, 3, 4, 5, 6 Ɖiều 126 Luật Các tổ chức tín dụng (đã sửa đổi, bổ sung). – Khoản nợ vi phạm quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 Ɖiều 127 Luật Các tổ chức tín dụng (đã sửa đổi, bổ sung). + Khoản nợ vi phạm quy định tại các khoản 1, 2, 5 Ɖiều 128 Luật Các tổ chức tín dụng (đã sửa đổi, bổ sung). – Khoản nợ trong thời hạn thu hồi theo kết luận thanh tra, kiểm tra; – Khoản nợ phải thu hồi theo quyết định thu hồi nợ trước hạn của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng vi phạm thỏa thuận với tổ chức tín dụng, chi 10 nhánh ngân hàng nước ngoài chưa thu hồi được trong thời gian dưới 30 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi.
– Khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Ɖiều này. – Khoản nợ phải phân loại vào nhóm 3 theo quy định tại khoản 4 Ɖiều 8 Thông tư này. d) Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: – Khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày, trừ khoản nợ quy định tại khoản 3 Ɖiều này. – Khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn đến 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu, trừ khoản nợ quy định tại khoản 3 Ɖiều này.
– Khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai còn trong hạn, trừ khoản nợ quy định tại điểm b khoản 2, khoản 3 Ɖiều này. – Khoản nợ quy định tại điểm c(iv) khoản 1 Ɖiều này chưa thu hồi được trong thời gian từ 30 ngày đến 60 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi. – Khoản nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra, kiểm tra nhưng quá thời hạn thu hồi theo kết luận thanh tra, kiểm tra đến 60 ngày mà chưa thu hồi được. – Khoản nợ phải thu hồi theo quyết định thu hồi nợ trước hạn của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng vi phạm thỏa thuận với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài chưa thu hồi được trong thời gian từ 30 ngày đến 60 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi.
– Khoản nợ được phân loại vào nhóm 4 theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Ɖiều này. – Khoản nợ phải phân loại vào nhóm 4 theo quy định tại khoản 4 Ɖiều 8 Thông tư này. đ) Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: – Khoản nợ quá hạn trên 360 ngày; – Khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 91 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu. – Khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai.
– Khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, trừ khoản nợ quy định tại điểm b 11 khoản 2 Ɖiều này. – Khoản nợ quy định tại điểm c(iv) khoản 1 Ɖiều này chưa thu hồi được trên 60 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi. – Khoản nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra, kiểm tra nhưng quá thời hạn thu hồi theo kết luận thanh tra, kiểm tra trên 60 ngày mà chưa thu hồi được. – Khoản nợ phải thu hồi theo quyết định thu hồi nợ trước hạn của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng vi phạm thỏa thuận với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài chưa thu hồi được trên 60 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi.
– Khoản nợ của khách hàng là tổ chức tín dụng đang được kiểm soát đặc biệt, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đang bị phong tỏa vốn và tài sản. – Khoản nợ được phân loại vào nhóm 5 theo quy định tại khoản 3 Ɖiều này. – Khoản nợ phải phân loại vào nhóm 5 theo quy định tại khoản 4 Ɖiều 8 Thông tư này. Nợ xấu là nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5.
Nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn Theo thông tư số 11/2021/TT-NHNN thông tư số 11/2021/TT-NHNN, nợ quá hạn là khoản nợ mà khách hàng không trả được đúng hạn một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi theo thỏa thuận với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.