Chương 1: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.2 Tính cấp thiết của đề tài 1.3 Mục tiêu của đề tài 1.4 Câu hỏi nghiên cứu 1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1.6 Phương pháp nghiên cứu 1.7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1.8 Bố cục nghiên cứu Chương 2: KHUNG LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 1 2.1 Khung lý thuyết về thanh khoản của NHTM 2.2 Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu 2.3 Khe hở nghiên cứu 2.4 Các nghiên cứu thực nghiệm Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Quy trình nghiên cứu 3.2 Dữ liệu nghiên cứu 3.3 Mô hình nghiên cứu và mô tả biến 3.4 Phân tích dữ liệu 3.5 Các kiểm định để lựa chọn mô hình Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Phân tích tình hình thanh khoản của NHTM giai đoạn 2009 – 2019 4.2 Kết quả nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản của các NHTM tại Việt Nam 4.4 Thảo luận kết quả nghiên cứu Chương 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ 5.2 Hàm ý chính sách 5.3 Hạn chế của đề tài 1 CHƯƠNG 2: KHUNG LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2.1 Khung lý thuyết về thanh khoản của NHTM 2.1 Thanh khoản của ngân hàng thương mại Thuật ngữ “thanh khoản” có nhiều khái niệm khác nhau. Theo bộ quy tắc về “Nguyên tắc quản lý và giám sát rủi ro thanh khoản” của Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (2008) (Basel Committee on Bank Supervision, 2008) thì “Thanh khoản là khả năng mà ngân hàng có thể tài trợ việc gia tăng của tài sản và đáp ứng các nghĩa vụ đến hạn mà không gây ra những khoản tổn thất không thể chấp nhận được”. Vai trò cơ bản của ngân hàng trong việc chuyển hóa kỳ hạn của các khoản ký thác ngắn hạn sang các khoản cho vay dài hạn làm cho ngân hàng thường xuyên trong tình trạng dễ bị tổn thương trước rủi ro thanh khoản, về bản chất thể chế đặc thù và cả đối với thị trường với tư cách là một tổng thể. Theo Nguyễn Văn Tiến (2010, tr.349) thì “Thanh khoản là khả năng ngân hàng đáp ứng kịp thời và đầy đủ các nghĩa vụ tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh như chi trả tiền gửi, cho vay, thanh toan, và các giao dịch tài chính khác” Theo Rudolf Duttweiler (2010) thì : Thanh khoản đại diện cho khả năng thực hiện tất cả các nghĩa vụ thanh toán khi đến hạn.
Do thực hiện bằng tiền mặt, thanh khoản chỉ liên quan đến các dòng lưu chuyển tiền tệ. Việc không thể thực hiện nghĩa vụ thanh toán sẽ dẫn đến tình trạng thiếu thanh khoản. Dưới góc độ ngân hàng, thanh khoản là khả năng ngân hàng đáp ứng kịp thời và đầy đủ các nghĩa vụ tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh như chi trả tiền gửi, cho vay, thanh toán và các giao dịch tài chính khác. Khi tình trạng thiếu thanh khoản kéo dài sẽ dẫn đến rủi ro thanh khoản.
Theo định nghĩa đơn giản nhất của Alshatti (2015) “Thanh khoản của 1 NHTM là khả năng đáp ứng các nghĩa vụ tài chính khi đến hạn”. Có thể thấy thanh khoản không phải là một số tiền cụ thể hay là một tỷ lệ nào đó, mà thanh khoản là sự thể hiện khả năng thực hiện các nghĩa vụ thanh toán của một ngân hàng. Trái ngược lại với thanh khoản là “thiếu khả năng thanh khoản”, nghĩa là ngân hàng thiếu khả năng thực hiện các nghĩa vụ thanh toán. Như vậy, nếu hiểu theo nghĩa này thì thanh khoản đại diện cho yếu tố định tính về sức mạnh tài chính của một ngân hàng (Joel Bessis, 2012).
Tóm lại, khả năng thanh khoản của ngân hàng là: - Là khả năng đáp ứng nhu cầu rút tiền của khách hàng. - Ngân hàng có khả năng thanh khoản khi dự trữ nhiều tài sản có tính thanh khoản cao. - Nguồn vốn có tính thanh khoản cao khi chi phí huy động thấp và thời gian huy động nhanh. - Tài sản có tính thanh khoản cao khi chi phí chuyển đổi thành tiền thấp và khả năng chuyển hóa ra tiền nhanh.2 Các phương pháp đo lường trạng thái thanh khoản của ngân hàng Hiện tại, có ba phương pháp đo lường thanh khoản đã và đang được phát triển sau: - Phương pháp cung cầu thanh khoản; - Phương pháp chỉ số tài chính về thanh khoản,; - Phương pháp tiếp cận nguồn vốn và sử dụng vốn.
Mỗi phương pháp nêu trên đều được xây dựng dựa trên một số giả định là ngân hàng chỉ có thể ước lượng gần đúng mức cầu thanh khoản thực tế tại một thời điểm nhất định. Đó chính là lý do vì sao nhà quản lý thanh khoản phải luôn sẵn sàng điều chỉnh mức dự tính về yêu cầu thanh khoản mỗi khi ngân hàng nhận được thông tin mới. Phương pháp cung cầu thanh khoản Theo Strahan (2008), thị trường tài chính phát triển như hiện nay thì những 1 hạnmức tín dụng và cam kết cho vay của ngân hàng lại đóng vai trò quan trọng hơn so với khoản tiền gửi của khách hàng đối thanh khoản. Loutskina (2011) cho rằng thị trường chứng khoán cũng có thể làm cho thanh khoản của ngân hàng cũng thay đổi, khi thị trường phát triển các ngân hàng thường giữ ít tài sản thanh khoản mà sử dụng chúng để cho vay để tìm kiếm lợi nhuận.
Ngoài ra, theo Umar. G (2016) vai trò của ngân hàng đã thay đổi, ngày nay ngân hàng không chỉ là tài chính trung gian mà là nhà môi giới, nhà kinh doanh trên thị trường thứ cấp. Cách tiếp cận cung cầu thanh khoản vận dụng sự thay đổi giữa tài sản và nợ phải trả cả trong hiện tại và tương lai. (Bassis, 2009) Theo Nguyễn Văn Tiến (2015), các nguồn cung và nhu cầu thanh khoản đến cùng lúc và tạo thành trạng thái thanh khoản ròng và có thể được tính như sau: NLP (Net Liquidity Position) = Cung thanh khoản – Cầu thanh khoản + (dư)/ - (thiếu) dự trữ thanh khoản.
Trong đó: - Cung thanh khoản: Là thanh khoản của ngân hàng được tính dựa vào khả năng huy động nguồn cung thanh khoản (chủ yếu là các khoản tiền gửi của khách hàng, thị trường tài sản, thị trường liên ngân hàng và NHTW) để đáp ứng nhu cầu thanh toán các nghĩa vụ nợ của ngân hàng. Do đó, theo phương pháp này một ngân hàng mất khả năng thanh khoản nếu nguồn cung thanh khoản ngân hàng đó không có khả năng thực hiện các nghĩa vụ các khoản nợ như đã cam kết. Hệ quả là ngân hàng có thể bị phá sản, các cổ đông và thậm chí người gửi tiền sẽ chịu thiệt hại. Các nguồn cung thanh khoản bao gồm: tiền gửi của khách hàng, khách hàng hoàn trả tín dụng, đi vay mượn trên thị trường tiền tệ, thu nhập từ bán tài sản, doanh thu từ việc cung cấp dịch vụ, phát hành cổ phiếu ra thị trường.
Trong đó, tiền gửi của khách hàng, khách hàng hoàn trả tín dụng được xem là nguồn cung thanh khoản quan trọng nhất của NH. - Cầu thanh khoản: Phản ánh nhu cầu rút tiền khỏi ngân hàng ở những thời điểm khác nhau. Nhu cầu này phụ thuộc vào các nhân tố: nhu cầu rút tiền gửi của khách hàng, nhu cầu vay tiền từ khách hàng, hoàn trả các khoản đi vay, chi phí 1 cung ứng dịch vụ và chi phí lãi, mua lại cổ phiếu. Trong đó, nhu cầu rút tiền gửi của khách hàng là nhu cầu thanh khoản có tính thường xuyên, tức thời, bao gồm các loại tiền: tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi giao dịch, tiền gửi có kỳ hạn đến hạn và có thể rút trước hạn.
Trong đó tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi giao dịch, ngân hàng luôn phải đảm bảo một khoản tiền dự trữ để đáp ứng nhu cầu thanh toán từ tài khoản này. Những nhân tố tạo nên nhu cầu thanh khoản này có thể là sự biến động của lạm phát trong nền kinh tế, chênh lệch đang kể về lãi suất huy động giữa các ngân hàng, mức lợi tức khác biệt của các cơ hội đầu tư (chứng khoán, bất động sản, vàng, ngoại tệ) so với gửi tiền vào ngân hàng. Nhu cầu vay tiền từ khách hàng chịu tác động của các nhân tố như nhu cầu đầu tư của ngân hàng, lãi suất cho vay của ngân hàng có tính cạnh tranh cao so với các ngân hàng khác, các nguồn vốn khác trở nên khó tiếp cận hơn. Cách tiếp cận cung cầu thanh khoản dùng dự trữ thanh khoản như một hồ chứa.
Qua đó, ngân hàng đánh giá trạng thái thanh khoản bằng cách so sánh sự thay đổi trong dòng tiền vào và dòng tiền ra để xác định lượng dự trữ cần thiết. Cách tiếp cận cung cầu thanh khoản vận dụng sự thay đổi giữa tài sản và nợ phải trả cả trong hiệntại và tương lai. - Dư/thiếu dự trữ thanh khoản: bao gồm dư/ thiếu dự trữ bắt buộc để đáp ứng yêu cầu của NHNN và dư/ thiếu dự trữ ngân quỹ để đáp ứng yêu cầu thanh khoản của từng ngân hàng (Nguyễn Văn Tiến, 2015). Như vậy, NLP có thể xảy ra 3 trường hợp: NLP > 0 (thặng dư thanh khoản); NLP < 0 (thiếu hụt thanh khoản) hoặc NLP = 0.
Trong đó, NLP = 0 là trạng thái hiếm gặp. Cả hai trạng thái thặng dư thanh khoản và thiếu hụt thanh khoản đều có những ảnh hưởng nhất định đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng. - Thặng dư thanh khoản (NLP > 0): ngân hàng gặp trạng thái thặng dư thanh khoản, có thể do dự trữ thanh khoản quá nhiều hoặc do nhu cầu cho vay, đầu tư bị suy giảm hoặc do ngân hàng tăng vốn quá nhanh trong khi chưa có phương án sử dụng vốn hiệu quả và đều tác động xấu đến khả năng sinh lời của ngân hàng. - Thiếu hụt thanh khoản (NLP < 0): ngân hàng thiếu hụt thanh khoản do 1 cung thanh khoản không đủ để đáp ứng cầu thanh khoản, ngân hàng phải đối mặt với áp lực thanh khoản.
Để giải quyết áp lực này, NH có thể sử dụng các biện pháp để tăng cung như thu hút thêm tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá, bán chứng khoán thanh khoản, bán tài sản, hoặc vay TCTD khác, vay NHNN… Nhìn chung, thanh khoản mang tính thời điểm rất lớn, do đó hiếm khi cung và cầu thanh khoản cân bằng tại một thời điểm bất kỳ. Điều này có nghĩa, NHTM phải thường xuyên, liên tục xử lý các trạng thái thiếu hụt và thặng dư thanh khoản. Trong quá trình xử lý đó, luôn chứa đựng sự đánh đổi giữa thanh khoản và khả năng sinh lời của ngân hàng. Phương pháp chỉ số thanh khoản Nghiên cứu của Crosse & Hempel (1980), Aspachs et al.