Chương 1: Cơ sở lý luận về dịch vụ phi tín dụng và phát triển dịch vụ phi tín dụng của các Ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng phát triển dịch vụ phi tín dụng của các Ngân hàng thương rmại tại Việt Nam 7 Chương 3: Giải pháp phát triển dịch vụ phi tín dụng của các Ngân hàng thương mại tại Việt Nam. 8 CHƯƠNG1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ PHI TÍN DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ PHI TÍN DỤNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Cơ sở lý luận về dịch vụ phi tín dụng của Ngân hàng thương mại 1.
Khái niệm về dịch vụ Trên thế giới, dịch vụ và khái niệm dịch vụ tồn tại và phát triển từ lâu, được các nhà kinh tế học quan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau. Vì thế, có rất nhiều khái niệm về dịch vụ. Phần lớn những khái niệm này đều xuất phát từ việc phân biệt dịch vụ với hàng hóa. Dịch vụ là một phương tiện cung cấp giá trị cho KH bằng cách tạo điều kiện cho KH đạt được kết quả mong muốn, nhưng không có quyền sở hữu chi phí và rủi ro cụ thể.
Một dịch vụ sẽ không hoàn thiện nếu không có người nhận; đó là một mối quan hệ tiềm năng hoặc quan hệ thực (ITIL v3, 1986).Kotler định nghĩa dịch vụ như sau “Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất.”(Giáo trình Quản trị marketing, Tr. Theo định nghĩa của ISO, dịch vụ và sản phẩm khác nhau do các thành phần của nó. “Dịch vụ có nguồn gốc từ bốn thành phần bao gồm KH, phương tiện, sản phẩm kèm theo và các nhà cung cấp dịch vụ”.
Ví dụ, để cung cấp dịch vụ đào tạo, tổ chức đào tạo cần phải có KH tham gia chương trình. Họ cũng cần các tòa nhà với các phòng và trang thiết bị cho KH sử dụng. Một số sản phẩm kèm theo cũng rất cần thiết cho các lớp học như bút, vở. Cuối cùng, phải có giảng viên để thực hiện và cung cấp bài giảng.
Tầm quan trọng của mỗi thành phần là phụ thuộc vào các tính năng độc đáo của dịch vụ. Cách hiểu về dịch vụ cũng không hoàn toàn thống nhất giữa các quốc gia khác nhau trên thế giới. Vì lẽ đó, trong hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS), Tổ chức thương mại thế giới (WTO) đã liệt kê dịch vụ thành 12 ngành lớn, trong mỗi 9 ngành lớn lại bao gồm các phân ngành. Tổng cộng có 155 phân ngành với 4 phương thức cung cấp dịch vụ là: Cung cấp qua biên giới, tiêu dùng dịch vụ ngoài lãnh thổ, hiện diện thương mại và hiện diện thể nhân trong đó có hoạt động NH.
Tóm lại, khái niệm dịch vụ được hiểu là các lao động của con người được kết tinh trong các sản phẩm vô hình nhằm thoả mãn những nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của con người. Dịch vụ bao trùm lên tất cả các lĩnh vực với trình độ cao, chi phối rất lớn đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội, môi trường của từng quốc gia, khu vực nói riêng và toàn thế giới nói chung. Thuộc tính chung của dịch vụ Hiện tại nhìn chung chúng ta chưa có một khái niệm thống nhất về dịch vụ, tuy nhiên, cho dù được diễn tả như thế nào và xét trên lĩnh vực nào thì dịch vụ cũng bao gồm nhưng thuộc tính cơ bản sau: Thứ nhất: Dịch vụ mang tính vô hình. Dịch vụ là thứ bạn không thể cầm nắm được khi sử dụng nó.
Không giống như sản phẩm là hàng hóa hữu hình có tính chất cơ, lý, hóa học,… các thành phần nguyên liệu, chỉ tiêu kỹ thuật, dịch vụ lại không tồn tại dưới dạng vật chất bằng những vật phẩm cụ thể, không nhìn thấy được và do đó không thể xác định chất lượng dịch vụ trực tiếp bằng những chỉ tiêu kỹ thuật được lượng hoá. Thứ hai: Quá trình sản xuất (cung ứng) dịch vụ và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời. Trong sản xuất hàng hoá, việc sản xuất lưu thông được tách lập riêng biệt với tiêu dùng, do đó hàng hoá có thể được lưu kho để dự trữ, có thể vận chuyển đi nơi khác theo nhu cầu thị trường. Còn quá trình cung ứng dịch vụ lại gắn liền với tiêu dùng dịch vụ.
Hay nói cách khác, quá trình sản xuất và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời, vì vậy không thể sản xuất dịch vụ hàng loạt và lưu trữ trong kho sau đó mới tiêu dùng. Thứ ba: Tính không ổn định và khó xác định: Chất lượng dịch vụ mang tính không đồng nhất. Dịch vụ và người cung cấp dịch vụ gắn liền với nhau. Chất lượng phụ thuộc chặt chẽ vào người thực hiện, cung cấp dịch vụ (trình độ, kỹ năng…).
Bên cạnh đó chất lượng dịch vụ cũng có thể thay đổi theo thời gian mặc dù có cùng một cá nhân thực hiện, cung ứng dịch vụ. Dịch vụ của ngân hàng thương mại 1 1. Khái niệm dịch vụ của ngân hàng thương mại Hiệp định chung về thương mại (GATS) của Tổ chức Thương mại Thế giới không nêu khái niệm dịch vụ mà thay vào đó là chia thành 12 ngành lớn. Trong các ngành lại liệt kê các hoạt động dịch vụ cụ thể.
Dịch vụ tài chính được xếp thứ 7. Dịch vụ tài chính bao gồm dịch vụ bảo hiểm và liên quan đến bảo hiểm, dịch vụ NH và dịch vụ tài chính khác. “Quản trị ngân hàng thương mại” của Peter S. Rose cho rằng “NH là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và các dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.
Và được giải thích “Mọi NH hoạt động với 3 hoạt động cơ bản là huy động vốn; Hoạt động sử dụng vốn; Các hoạt động khác như thanh toán, ngân quỹ… Theo Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam có quy định DVNH nhưng không nêu ra định nghĩa mà đưa ra cụm từ “Hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ NH” được bao gồm các nội dung: Nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán, tại khoản 1 và khoản 7, điều 20 “Là hoạt động kinh doanh tiền tệ và DVNH với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán”. Theo Chương 3 của Luật tổ chức tín dụng này đã nêu các điều khoản về hoạt động NH được chia theo 4 mảng lớn: Huy động vốn, tín dụng, thanh toán và ngân quỹ và các hoạt động khác. Đặc điểm dịch vụ của ngân hàng thương mại Thứ nhất: Quá trình cung ứng dịch vụ và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời Quá trình cung cấp và tiêu dùng DVNH được diễn ra đồng thời, đặc biệt có sự tham gia trực tiếp của KH vào quá trình cung ứng dịch vụ. Đồng thời mỗi dịch vụ lại tuân theo một quy trình nhất định không thể chia cắt được thành các loại dịch vụ khác nhau như quy trình thẩm định, quy trình cho vay…Điều này làm cho DVNH không có dịch vụ dở dang, dịch vụ lưu kho mà được cung cấp trực tiếp cho KH khi KH có nhu cầu.
Do đó, các NHTM thường tạo dựng, duy trì và phát triển các mối quan hệ với KH và các NH khác bằng cách nâng cao chất lượng dịch vụ cung ứng phát triển hoạt động 1 chăm sóc KH trong đội ngũ nhân viên NH và hiện đại hóa hệ thống cung ứng tạo tính đặc biệt của hoạt động dịch vụ này. Thứ hai: Tính không ổn định và khó xác định Chất lượng DVNH mang tính không đồng nhất. Dịch vụ gắn chặt với người cung cấp dịch vụ, ở đây là các nhân viên NH giao dịch với KH. Chất lượng phụ thuộc chặt chẽ vào trình độ, kỹ năng, thái độ,… của người thực hiện, cung cấp dịch vụ.
Hơn nữa, tuy cùng một sản phẩm dịch vụ, cùng một cá nhân cung cấp thì chất lượng dịch vụ đôi khi cũng thay đổi theo thời gian. Thứ ba: Dịch vụ ngân hàng mang tính vô hình Đây chính là đặc điểm khác biệt nhất giữa DVNH và các dịch vụ của các ngành sản xuất vật chất khác trong nền kinh tế quốc dân. DVNH không thể nhìn thấy, cảm nhận, nghe được trước khi mua chúng. KH khi đến với NH không thể chắc chắn số tiền của mình có được an toàn hay không? Số tiền thanh toán cho KH có đúng hẹn hay không? Do vậy, trong kinh doanh NH phải dựa trên cơ sở lòng tin của KH dành cho uy tín của NH.
Hoạt động của NHTM luôn luôn phải hướng tới việc củng cố và tạo ra lòng tin đối với KH, tập trung vào nâng cao chất lượng dịch vụ cung ứng, tăng tính hữu hình của dịch vụ, quảng cáo tăng hình ảnh của NH, uy tín, tạo điều kiện để KH tham gia vào hoạt động tuyên truyền cho NH. Thứ tư: Tính không lưu giữ được Các DVNH của NHTM mang tính vô hình vì vậy không thể lưu kho được. Nhu cầu về các sản phẩm dịch vụ thường không đồng đều và thường biến động trong năm song các NH cũng không thể sản xuất sẵn rồi đem cất trữ. Ví dụ, vào thời điểm cuối tháng, cuối quý, cuối năm nhu cầu về dịch vụ thanh toán, chuyển tiền thường rất lớn, do không thể sản xuất cung ứng trước nên các NH phải tăng cường phương tiện cũng như nguồn nhân lực để đảm bảo thực hiện các giao dịch hiệu quả nhất.
Do đó chi phí DVNH tương đối cao. Phân loại dịch vụ của NHTM Căn cứ theo tính chất dịch vụ thì DVNH được phân thành hai loại: Dịch vụ tín dụng NH và DVPTDNH. 1 Dịch vụ tín dụng ngân hàng: Ngày nay, trong điều kiện phát triển của nền kinh tế, nhu cầu luân chuyển vốn từ nơi dư thừa sang nơi thiếu hụt là cần thiết. Tuy nhiên, do có nhiều hạn chế trong quan hệ tín dụng trực tiếp, như người dư thừa và thiếu hụt vốn không gặp nhau về mặt không gian, thời gian, khối lượng, loại tiền, lãi suất và đặc biệt là độ tin cậy lẫn nhau, khiến cho tín dụng trực tiếp không thể phát triển được.
Để chắp nối nhu cầu đó, thì cần thiết phải có một người thứ ba đứng ra huy động toàn bộ nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi, trên cơ sở vốn huy động được cấp tín dụng cho những người có nhu cầu cần vốn tạm thời.