CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ PHI TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về dịch vụ phi tín dụng tại ngân hàng thƣơng mại 1.1 Tổng quan về dịch vụ Theo một số nghiên cứu trên thế giới, có sự phân biệt giữa hàng hoá (good) và dịch vụ (service). Khi ngƣời tiêu dùng mua một hàng hoá, họ có đƣợc tài sản đó; trong khi một dịch vụ đƣợc mua thì đồng nghĩa với việc ngƣời mua phải tốn một chi phí. Hầu hết các dịch vụ đều yêu cầu có sự hỗ trợ của hàng hoá để dịch vụ trở nên hữu ích (Rathmell, 1966). Không giống nhƣ hàng hóa, đƣợc thể hiện dƣới giá trị tiền tệ đƣợc quy định theo giá (price), các dịch vụ có nhiều khả năng đƣợc thể hiện dƣới dạng tỷ lệ (rate), phí (fees), lãi suất (interest rate) và tƣơng tự.
Vì dịch vụ là hành vi hoặc quy trình và đƣợc sản xuất khi chúng đƣợc tiêu thụ, chúng có thể đƣợc bán "trực tiếp" hoặc trong một số trƣờng hợp, các trung gian đại lý đƣợc sử dụng để tiếp thị dịch vụ, nhƣ đại lý bảo hiểm và du lịch (Rathmell, 1966). Heskett (1986) định nghĩa dịch vụ là cách thức mà một tổ chức muốn có các dịch vụ của mình đƣợc nhận thức bởi các khách hàng, nhân viên, cổ đông và ngƣời cho vay, tức là đề xuất kinh doanh của tổ chức. Edvardsson và Olsson (1996) đƣa ra khái niệm dịch vụ là mô tả chi tiết về những gì sẽ đƣợc thực hiện cho khách hàng (những nhu cầu và mong muốn đƣợc thỏa mãn) và làm thế nào để đạt đƣợc điều này. Họ nhấn mạnh việc phát triển khái niệm dịch vụ nhƣ một giai đoạn quan trọng trong thiết kế và phát triển dịch vụ.
Edvardsson và cộng sự (2000) định nghĩa dịch vụ là một mô tả chi tiết về khách hàng cần đƣợc thỏa mãn, làm thế nào để họ hài lòng, phải làm gì cho khách hàng và làm thế nào để đạt đƣợc điều này. Dịch vụ đóng một vai trò quan trọng trong thiết kế và phát triển dịch vụ. Khái niệm dịch vụ xác định cách thức và nội dung của thiết kế dịch vụ và giúp hòa giải giữa nhu cầu của khách hàng và mục đích 1 chiến lƣợc của tổ chức. Nhóm tác giả đã xác định khái niệm dịch vụ và mô tả cách sử dụng dịch vụ để tăng cƣờng nhiều quy trình thiết kế dịch vụ (Goldstein và cộng sự, 2002).
Dịch vụ là những hoạt động phục vụ nhằm thoả mãn những nhu cầu sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt. Tuỳ theo trƣờng hợp, dịch vụ bao gồm: một công việc ít nhiều chuyên môn hoá, việc sử dụng hẳn hay tạm thời một tài sản, việc sử dụng phối hợp một tài sản bền lâu và sản phẩm của một công việc, cho vay vốn. Do nhu cầu rất đa dạng tuỳ theo sự phân công lao động nên có nhiều loại dịch vụ: dịch vụ sản xuất, kinh doanh; dịch vụ sinh hoạt công cộng; dịch vụ cá nhân dƣới hình thức những dịch vụ gia đình; những dịch vụ tinh thần dựa trên những nghiệp vụ đòi hỏi tài năng đặc biệt (hoạt động nghiên cứu, môi giới, quảng cáo); những dịch vụ liên quan đến đời sống và sinh hoạt công cộng (sức khoẻ, giáo dục, giải trí); những dịch vụ về chỗ ở… Sản xuất, kinh doanh và dịch vụ tác động lẫn nhau chặt chẽ; dịch vụ là một điều kiện để phát triển sản xuất, kinh doanh. Dịch vụ pháp lí, tài chính, tiền tệ, vận tải, thông tin liên lạc… có vai trò rất quan trọng.
Sự phát triển dịch vụ hợp lí, có chất lƣợng cao là biểu hiện của nền kinh tế phát triển và một xã hội văn minh (Hội đồng biên soạn, 1995). Từ điển Việt Nam giải thích về dịch vụ: “Dịch vụ là các hoạt động nhằm thoả mãn những nhu cầu sản xuất kinh doanh và sinh hoạt” (Từ điển Bách Khoa, 2010). Dịch vụ ngân hàng đƣợc hiểu là các nghiệp vụ ngân hàng về vốn, tiền tệ, thanh toán,… mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng đáp ứng nhu cầu kinh doanh, sinh lời, sinh hoạt cuộc sống, cất trữ tài sản,… và ngân hàng thu chênh lệch lãi suất, tỷ giá hay thu phí thông qua dịch vụ ấy. (Nguyễn Chí Trung, 2006) Những dịch vụ ngân hàng ngày càng phát triển vừa cho phép hỗ trợ đáng kể cho nghiệp vụ khai thác nguồn vốn, mở rộng các nghiệp vụ đầu tƣ, vừa tạo ra thu nhập cho ngân hàng bằng các khoản tiền hoa hồng, lệ phí… có vị trí xứng đáng trong giai đoạn phát triển hiện nay của ngân hàng thƣơng mại.
Các dịch vụ tài chính đƣợc cung cấp bởi NHTM bao gồm: (i) Các dịch vụ thanh toán thu chi hộ cho 1 khách hàng (chuyển tiền, thu hộ séc, dịch vụ cung cấp thẻ tín dụng, thẻ thanh toán…); (ii) Nhận bảo quản các tài sản quí giá, các giấy tờ chứng thƣ quan trọng của công chúng; (iii) Bảo quản, mua bán hộ chứng khoán theo uỷ nhiệm của khách hàng; (iv) Kinh doanh mua bán ngoại tệ, vàng bạc đá quí; (v) Tƣ vấn tài chính, giúp đỡ các công ty, xí nghiệp phát hành cổ phiếu, trái phiếu… (Nguyễn Thị Mùi, Nguyễn Minh Kiều, Phan Thị Cúc và Nguyễn Đăng Dờn, 2008) 1.2 Khái niệm dịch vụ phi tín dụng Thomas P. Fitch định nghĩa về dịch vụ phi tín dụng: Dịch vụ phi tín dụng (non-credit banking services) là các dịch vụ ngân hàng dựa trên lệ phí không liên quan đến việc mở rộng tín dụng mà ngân hàng cung cấp cho các ngân hàng đại lý hoặc khách hàng doanh nghiệp. Thu nhập từ dịch vụ phi tín dụng có thể là một nguồn thu đáng kể cho các ngân hàng và các tổ chức tài chính. Ví dụ dịch vụ phi tín dụng bao gồm sự tin tƣởng và các khoản thu liên quan đến đầu tƣ, quản lý tiền mặt toàn cầu, trao đổi tiền tệ nƣớc ngoài… (trích trong nghiên cứu của Phạm Anh Thủy, 2013).
Theo Tài liệu dự án “Khảo sát và đánh giá dịch vụ phi tín dụng ngân hàng Việt Nam” của tổ chức Deloitte Touche Tohmatsu (trích trong nghiên cứu của Phạm Anh Thủy, 2013), dịch vụ phi tín dụng là bất cứ dịch vụ hoặc sản phẩm nào cung cấp bởi ngân hàng hoặc các tổ chức tài chính mà không phải là những dịch vụ tín dụng. Dịch vụ phi tín dụng là dịch vụ đƣợc ngân hàng cung cấp tới khách hàng đáp ứng nhu cầu về tài chính, tiền tệ của khách hàng nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp đem lại cho ngân hàng một khoản thu nhập nhất định, không bao gồm dịch vụ tín dụng. Dịch vụ phi tín dụng là các dịch vụ ngân hàng mang lại nguồn thu cho các ngân hàng ngoài nguồn thu từ lãi tín dụng thể hiện qua các khoản thu từ dịch vụ tài khoản thanh toán, dịch vụ ngân quỹ, dịch vụ lảo lãnh thu phí, dịch vụ tƣ vấn, dịch vụ ủy thác, dịch vụ kinh doanh ngoại tệ, dịch vụ ngân hàng số (dịch vụ internet banking, mobile banking…) (Phạm Anh Thủy, 2013).3 Sự khác nhau giữa dịch vụ tín dụng và dịch vụ phi tín dụng - Dịch vụ tín dụng ngân hàng: • Theo Luật các TCTD (2010), “cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Trong đó, cho vay là một hình thức cấp tín dụng của các NHTM và đƣợc định nghĩa là “hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”.
Nhƣ vậy, thuật ngữ tín dụng mang tính tổng quát hơn thuật ngữ cho vay. • Thực hiện chức năng trung gian này chính là các tổ chức tín dụng, mà trong đó chủ yếu là các NHTM. Nhƣ vậy ngân hàng thực hiện chức năng “luân chuyển vốn” giữa các chủ thể khác trong nền kinh tế; thực hiện chức năng này, ngân hàng giữ vai trò là ngƣời đi vay (khách hàng) và vai trò là ngƣời cho vay (chủ nợ). Đây là quan hệ tín dụng gián tiếp mà ngƣời tiết kiệm, thông qua vai trò trung gian của ngân hàng, thực hiện đầu tƣ vốn vào các chủ thể có nhu cầu về vốn trong nền kinh tế (Phan Thị Linh, 2015).
- Dịch vụ phi tín dụng: • Đó là các dịch vụ gắn liền với việc thu phí do các NHTM thực hiện, thông qua việc cung cấp các dịch vụ tài chính của ngân hàng cho các doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân và hộ gia đình nhằm thu đƣợc lợi nhuận, điển hình cho các dịch vụ này bao gồm dịch vụ thanh toán, dịch vụ bảo lãnh, dịch vụ ngân hàng điện tử, dịch vụ kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc đá quý, dịch vụ tƣ vấn, bảo hiểm… (Phan Thị Linh, 2015). • Theo nghiên cứu của Arunkumar và Kotreshwar (2005), nhóm tác giả nhận thấy rằng hoạt động tín dụng sẽ gây ra rủi ro tín dụng mà rủi ro này chiếm 70% rủi ro ngân hàng nói chung, trong khi 30% còn lại bao gồm rủi ro thị trƣờng và 1 rủi ro hoạt động. Giám đốc điều hành ngân hàng cần không ngừng tìm kiếm các giải pháp để hạn chế và nâng cao quản lý rủi ro tín dụng. • Các loại dịch vụ phi tín dụng: Thanh toán, bao thanh toán, chuyển tiền; Cung cấp dịch vụ bán lẻ; Đầu tƣ vào thị trƣờng chứng khoán; Góp vốn liên doanh liên kết; Đầu tƣ vào các dự án; Thành lập các công ty con; Kinh doanh ngoại tệ; Chiết khấu và tái chiết khấu giấy tờ có giá… 1.4 Các loại hình dịch vụ phi tín dụng 1.1 Dịch vụ thanh toán Đây là hoạt động điển hình và có vai trò chìa khóa cho hoạt động cung ứng dịch vụ của NHTM đối với khách hàng nói chung và khách hàng cá nhân nói riêng.
Ngày nay dịch vụ thanh toán đƣợc tổ chức cung ứng cho ngƣời tiêu dùng qua các kênh phân phối trực tiếp và gián tiếp dựa trên hệ thống kỹ thuật hạ tầng và công nghệ xử lý hiện đại. Với sự tiến bộ này, khách hàng ngày càng nhận đƣợc những dịch vụ thanh toán có tính an toàn, chính xác và tiện ích cao, không những trong nƣớc mà còn trên phạm vi toàn cầu. Các NHTM khi cung cấp dịch vụ thanh toán cho khách hàng, ngân hàng đóng vai trò là một tổ chức trung gian thực hiện thanh toán thay cho khách hàng của mình. Căn cứ vào phạm vi thực hiện, dịch vụ thanh toán bao gồm: dịch vụ thanh toán trong nƣớc và dịch vụ thanh toán quốc tế.