CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Khái niệm và phân loại DNNVV Khi nói đến doanh nghiệp nhỏ và vừa phải nói đến đặc đặc điểm để phân biệt với doanh nghiệp lớn đó là quy mô vốn, lao động, doanh thu hoặc phạm vi hoạt động của doanh nghiệp. Tùy vào trình độ phát triển kinh tế, bối cảnh văn hóa, mục đích phân loại doanh nghiệp mà mỗi nước, mỗi quốc gia, mỗi thời điểm sẽ có những tiêu chí xếp loại DNNVV khác nhau.
Theo tiêu chí phân loại của Ngân hàng thế giới (World Bank), căn cứ vào quy mô có thể chia DNNVV thành ba loại: doanh nghiệp siêu nhỏ (micro enterprises), doanh nghiệp nhỏ (small enterprises) và doanh nghiệp vừa (medium enterprises). Các tiêu chí để phân loại DNNVV của World Bank chủ yếu dựa vào số lượng lao động bình quân, nguồn vốn và doanh thu hàng năm của doanh nghiệp. Ngoài ra World Bank còn đưa thêm tiêu chí về quy mô vay trung bình để phân loại DNNVV (Bảng 1.1: Tiêu chí phân loại DNNVV của World Bank Qui mô công ty Nhân viên Tài sản Doanh thu hàng năm Siêu nhỏ <10 < $100,000 < $100,000 Nhỏ <50 < $3 triệu < $3 triệu Vừa <300 < $15 triệu < $15 triệu Quy mô vay trung bình Siêu nhỏ < $10,000 Nhỏ < $100,000 Vừa < $1 triệu (< $2 triệu đối với một số quốc gia tiên tiến) Nguồn: Tổng hợp từ World Bank, IFC 8 Bảng 1.2: Tiêu chí phân loại DNNVV tại một số quốc gia Quốc gia Nhân viên (người) Doanh thu hàng năm Châu Âu < 250 <50 triệu Euro Châu Mĩ <7 triệu USD (đối với đa số các ngành <500 (cho phần lớn hoạt động Hoa Kỳ không liên quan tới sản xuất, mức tối đa sản xuất và khai thác) là 35,5 triệu đô la) Canada <250 <50 triệu CAD <500 trong hoạt động sản xuất Mexico <50 trong hoạt động dịch vụ Châu Phi Nam Phi <200 <50 triệu ZAR Châu Á <200 (ngành sử dụng nhiều lao Thái Lan động) <100 (ngành sử dụng <200 triệu Bạt nhiều vốn) <100 (ngành sản xuất) HongKong < 50 (ngành phi sản xuất) Nguồn: Cẩm nang kiến thức dịch vụ ngân hàng cho DNNVV, IFC (2009) [12] Phần lớn khi xác định DNNVV, các quốc gia đã dựa chủ yếu vào các tiêu chí sau: Số lượng lao động thường xuyên; Số lượng vốn góp; Doanh thu hàng năm; Đặc điểm ngành nghề kinh doanh. Đây là các tiêu chí cơ bản để xác định DNNVV tại mỗi quốc gia và cũng là những tiêu chí có tính định hướng để luận án làm rõ các tiêu chí cụ thể khi xác định DNNVV ở Việt Nam.
Hiện nay, quan niệm chính thức về DN nhỏ và vừa được quy định cụ thể trong nghị định 39/2018/NĐ-CP ngày 11/03/2018 quy định chi tiết một số điều của Luật hỗ trợ DNNVV, trong đó có tiêu chí xác định DNNVV. Theo đó, Nghị định quy định chi tiết các tiêu chí xác định DNNVV theo từng 9 lĩnh vực. Cụ thể, trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ; DNNVV được phân theo quy mô bao gồm: DN siêu nhỏ DN nhỏ DN vừa Số lao Số lao Số lao Tổng Tổng Tổng động Tổng động Tổng động Tổng Lĩnh vực doanh doanh doanh tham nguồn tham nguồn tham nguồn thu thu thu gia vốn gia vốn gia vốn năm năm năm BHXH BHXH BHXH Từ trên Từ trên Từ trên 1. Lĩnh vực 10 Từ trên Từ trên Từ trên 100 20 tỷ Từ 3 tỷ Từ 3 50 tỷ nông nghiệp, người 10 đến 3 tỷ 3 tỷ người đồng trở tỷ trở đồng lâm nghiệp, trở 100 đến 50 đến 20 đến 200 đến xuống xuống đến 200 thủy sản xuống người tỷ đồng tỷ đồng người 100 tỷ tỷ đồng đồng Từ trên Từ trên Từ trên 10 Từ trên Từ trên Từ trên 100 20 tỷ 2.
Lĩnh vực Từ 3 tỷ Từ 3 50 tỷ người 10 đến 3 tỷ 3 tỷ người đồng công nghiệp, trở tỷ trở đồng trở 100 đến 50 đến 20 đến 200 đến xây dựng xuống xuống đến 200 xuống người tỷ đồng tỷ đồng người 100 tỷ tỷ đồng đồng Từ trên Từ trên Từ trên 10 Từ trên Từ trên Từ trên 3. Lĩnh vực Từ 10 Từ 3 10 tỷ 100 tỷ 50 tỷ người 10 đến 3 tỷ 50 đến thương mại, tỷ trở tỷ trở đến đồng đến trở 50 đến 50 100 dịch vụ xuống xuống 100 tỷ đến 300 100 tỷ xuống người tỷ đồng người đồng tỷ đồng đồng (Nguồn: Nghị định 39/2018/NĐ-CP ngày 11/03/2018) [6] Trong phạm vi của luận án, để đánh giá thực trạng và tiềm năng phát triển tín dụng đối với DNNVV tại Chi nhánh BIDV Nam Sài Gòn giai đoạn từ năm 2013 - 2017, tác giả dùng tiêu chí phân loại DN theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 về trợ giúp phát triển DNNVV làm cơ sở lí luận cho việc nghiên cứu đề tài để thống nhất các số liệu thống kê từ nhiều nguồn như Tổng cục thống kê, NHNN, NHTM, sách báo, … Theo đó, DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau (xem bảng 1.3: Tiêu chí xác định DNNVV ở Việt Nam theo nghị định 56/2009/NĐ - CP ngày 30/06/2009 Về trợ giúp phát triển DNNVV DN siêu DN nhỏ DN vừa nhỏ Lĩnh vực Tổng Tổng nguồn Số lao động Số lao động Số lao động nguồn vốn vốn Từ trên 10 Từ trên 200 1- Nông, lâm Từ trên 20 tỷ 10 người trở 20 tỷ đồng người đến người đến 300 nghiệp và thuỷ đồng đến 100 xuống trở xuống 200 người người sản tỷ đồng 2- Công Từ trên 10 Từ trên 20 tỷ Từ trên 200 10 người trở 20 tỷ đồng nghiệp và xây người đến đồng đến 100 người đến 300 xuống trở xuống dựng 200 người tỷ đồng người Từ trên 10 Từ trên 10 tỷ Từ trên 50 3- Thương 10 người trở 10 tỷ đồng người đến 50 đồng đến 50 tỷ người đến 100 mại và dịch vụ xuống trở xuống người đồng người Nguồn: Nghị định 56/2009/NĐ -CP ngày 30/06/2009 [7] Căn cứ vào tình hình kinh tế xã hội cụ thể của từng ngành, địa phương mà trong quá trình phân loại sẽ áp dụng đồng thời cả hai mục tiêu vốn và lao động hoặc chỉ một trong hai chỉ tiêu. Những DNNVV này được hưởng sự hỗ trợ của Chính phủ theo các chương trình hỗ trợ về vốn, công nghệ, được giảm hoặc miễn một số loại thuế. Đặc điểm chuyên biệt của các DNNVV Ngoài những đặc trưng vốn có của một doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế, DNNVV còn có những đặc điểm riêng biệt xuất phát từ tính chất hoạt động, tác giả đánh giá một số đặc điểm của các DNNVV tại Việt Nam theo ưu điểm và nhược điểm như sau: Các DNNVV có những đặc điểm thể hiện qua các ưu điểm sau: Thứ nhất, bộ máy điều hành gọn nhẹ, có tính linh hoạt cao.
1 Với số lượng lao động không nhiều, cơ cấu tổ chức sản xuất cũng như bộ máy quản lý trong các DNNVV tương đối gọn, không có quá nhiều các khâu trung gian. DNNVV linh hoạt và nhạy cảm với môi trường sản xuất kinh doanh và luôn dễ dàng thích ứng với những biến động trên thị trường. Đặc biệt là nhu cầu nhỏ lẻ, có tính địa phương do DNNVV có khả năng chuyển hướng kinh doanh và chuyển hướng mặt hàng nhanh, tăng giảm lao động dễ dàng, nơi làm việc của người lao động có tính ổn định và ít bị đe doạ mất nơi làm việc. Thứ hai, DNNVV có tổ chức sản xuất, tổ chức quản lý linh hoạt, gọn nhẹ, các quyết định quản lý thực hiện nhanh, công tác kiểm tra, điều hành trực tiếp.
Qua đó góp phần tiết kiệm chi phí quản lý DN. Thứ ba, DNNVV có Vốn đầu tư ban đầu ít, hiệu quả cao, thu hồi nhanh, điều đó tạo sức hấp dẫn trong đầu tư sản xuất kinh doanh, mọi thành phần kinh tế vào khu vực này. Thứ tư, DNNVV được thành lập dễ dàng. DNNVV thường dễ tạo lập với một khối lượng vốn không lớn, điều này là do hiện nay có một xu hướng khá thuận tiện cho các DN là không phải kê khai tài sản vốn có, không phải vay mượn để làm vốn pháp định.
Theo Luật DN 2014 đã bỏ việc xác định vốn pháp định với mục đích hiện thực hóa quyền tự do kinh doanh tất cả các ngành nghề mà pháp luật không cấm theo quy định tại Hiến pháp 2013. Tuy nhiên, đối với từng ngành nghề cụ thể vẫn quy định rõ về vốn pháp định để thành lập DN. Bên cạnh các đặc điểm thể hiện ưu điểm, DNVVN còn có những đặc điểm thể hiện nhược điểm như sau: Thứ nhất, DNNVV có tiềm lực tài chính hạn chế. Hầu hết DNNVV có nguồn vốn tài chính hạn chế, đặc biệt nguồn vốn tự có cũng như vốn bổ sung để thực hiện quá trình tích tụ, tập trung nhằm duy trì hoặc mở rộng sản xuất kinh doanh.
Từ đó DNNVV bị hạn chế trong khả năng tiến hành đầu tư vào mặt bằng, nhà xưởng, máy móc thiết bị và nguyên vật liệu. Thứ hai, cơ sở vật chất kỹ thuật, trình độ công nghệ kỹ thuật thường yếu kém, lạc hậu. 1 Trình độ công nghệ, kỹ thuật lạc hậu là một đặc trưng của các DNNVV Việt Nam. Trình độ kỹ thuật, công nghệ luôn ở mức thấp hơn so với mức trung bình của thế giới, hơn nữa tốc độ đổi mới lại quá chậm.
Thứ ba, trình độ quản lý, quản trị của ban lãnh đạo DNNVV. Trình độ quản lý nói chung và quản trị các mặt theo các chức năng còn hạn chế. Đa số các chủ DNNVV chưa được đào tạo cơ bản, đặc biệt những kiến thức về kinh tế thị trường, về quản trị kinh doanh, về tài chính, luật pháp, họ quản lý bằng kinh nghiệm và thực tiễn là chủ yếu. Thứ tư, chiến lược sản xuất kinh doanh và năng lực cạnh tranh hạn chế.
Nhiều DNNVV thiếu một chiến lược kinh doanh rõ ràng, phù hợp với sứ mệnh, mục tiêu của doanh nghiệp mà đa phần chỉ xây dựng các kế hoạch sản xuất kinh doanh mang tính tạm thời, ngắn hạn, đáp ứng nhu cầu biến động của thị trường. Do đó, DNNVV thường có xu hướng đi chệnh ra sức mệnh và mục tiêu đề ra ban đầu và thiếu sự điều chỉnh kịp thời và hợp lý. Thứ năm, hoạt động của DNNVV phụ thuộc vào biến động của môi trường kinh doanh.