Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu Trình bày tổng quan về đề tài nghiên cứu bao gồm lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa của đề tài, cấu trúc của luận văn. - Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan. Đưa ra các lý thuyết liên quan và các nghiên cứu đã được thực hiện để hình thành mô hình nghiên cứu và các giả thiết nghiên cứu. - Chương 3: Các phương pháp nghiên cứu Nêu lên trình tự các bước và phương pháp thực hiện nghiên cứu.
Ước tính số lượng mẫu cần thu thập. - Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực nghiệm Trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm về tác động của chuyển đổi số đến hiệu quả hoạt động tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam. - Chương 5: Kết luận và kiến nghị Tóm tắt nghiên cứu và đưa ra các kiến nghị. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2.
Cơ sở lý thuyết về chuyển đổi số 2. Khái niệm Chuyển đổi số là một trong những hiện tượng quan trọng nhất trong phân phối bán lẻ (OECD, 2014; PwC, 2019). Các NHTM có thể sử dụng các kênh phân phối không chỉ hiệu quả hơn mà còn thực sự cho phép họ bán các sản phẩm được điều chỉnh theo nhu cầu khách hàng; mặt khác, người tiêu dùng có thể tiết kiệm chi phí đáng kể và tiếp cận với các dịch vụ và hàng hóa mà thực tế không bị hạn chế về thời gian hoặc không gian. Các cuộc khảo sát hiện này cho thấy về tổng thể, ngành dịch vụ tài chính đang trên đỉnh cao của quá trình chuyển đổi kỹ thuật số.
Các NHTM trên thế giới đang đầu tư đáng kể để nâng cao trải nghiệm và sự tương tác của khách hàng thông qua việc phát triển các sản phẩm và năng lực kỹ thuật số mới. Theo Ortaköy & Özsürünç (2019), với quy trình số hóa, các ngân hàng chuyển giao dịch của khách hàng từ các kênh chi nhánh vật lý sang các kênh kỹ thuật số như internet / mobile / ATM / VTM (Video Teller Machine). Do đó, các Ngân hàng hướng tới mục tiêu giảm khối lượng công việc của chi nhánh và nâng cao sự hài lòng trong trải nghiệm của khách hàng bằng cách thực hiện các giao dịch ngân hàng nhanh chóng, không sai sót và phi không gian. Forrester (2019) xác định hai động lực chính của chuyển đổi kỹ thuật số: Cải thiện trải nghiệm khách hàng (CX) và cơ hội tăng trưởng doanh thu.
Trong tương lai, nhờ có quá trình chuyển đổi số, “Ngân hàng sẽ vô hình, được kết nối dựa trên thông tin chi tiết và có mục đích” và phải được xây dựng dựa trên “niềm tin” của khách hàng. Chuyển đổi số là quá trình sử dụng các công nghệ kỹ thuật số mới (phương tiện truyền thông xã hội, di động, phân tích hoặc thiết bị công nghệ) để cho phép các cải tiến kinh doanh dịch vụ (chẳng hạn như nâng cao trải nghiệm khách hàng, hợp lý hóa hoạt động hoặc tạo mô hình kinh doanh mới). Chiến lược chuyển đổi kỹ thuật số 7 là một kế hoạch chi tiết hỗ trợ các NHTM quản lý các chuyển đổi phát sinh do sự tích hợp của công nghệ kỹ thuật số, cũng như trong hoạt động của họ sau khi chuyển đổi (Matt và cộng sự, 2015). Chuyển đổi số tạo ra thông tin mới hoặc quy trình hoạt động mới thông qua sử dụng các cải tiến công nghệ vào phương pháp làm việc hiện tại.
Thuật ngữ " Chuyển đổi số" rất rộng, điều này khiến nó có nhiều định nghĩa dựa trên các ngữ cảnh cụ thể. Một cách ngắn gọn, chuyển đổi số có thể được mô tả 3 là sự kết hợp của các yếu tố mang lại sự thay đổi mà trước đây chưa từng có, do đó sẽ cải thiện khả năng hoạt động của NHTM (Griliches, 1992). Sullivan (2000) cho rằng nhu cầu của con người đối với công nghệ tiếp tục biến đổi và ngày càng tăng, điều này làm cho công nghệ trở nên năng động, các NHTM đang trải qua một sự thay đổi mô hình từ thời đại công nghiệp truyền thống sang thời đại thông tin. Trước đây, các NHTM có nền tảng vốn lớn sẽ đạt được lợi thế cạnh tranh bằng cách sử dụng các công cụ công nghệ đắt tiền.
Các NHTM nhỏ hơn đã gặp khó khăn vì họ không đủ khả năng chi trả cho việc đồng hóa các công cụ công nghệ tương tự. Tuy nhiên, các công nghệ mới nổi đã dẫn đến một bối cảnh phụ thuộc nhiều vào thông tin. Giai đoạn này rất có ý nghĩa vì nó đã thay đổi sự năng động trong môi trường làm việc truyền thống, do đó tạo điều kiện cho các NHTM nhỏ có “chỗ ngồi trên bàn ăn” trong các thị trường rất cạnh tranh (Brynjolfsson và Hitt, 1996). Tóm lại, chuyển đổi số tại các NHTM là những thay đổi và chuyển đổi trong hoạt động quản lý, kinh doanh, phân phối dịch vụ tài chính của các ngân hàng được thúc đẩy và xây dựng trên nền tảng của công nghệ kỹ thuật số trong nền tảng dữ liệu lớn, phân tích, đám mây, di động và truyền thông xã hội.
Ngày nay, các tổ chức liên tục chuyển đổi và phát triển để đáp ứng với sự thay đổi của bối cảnh kinh doanh, tạo ra những thay đổi độc đáo trong hoạt động kinh doanh, quy trình kinh doanh và tạo ra giá trị. Đo lường chuyển đổi số Các yếu tố chuyển đổi số được định nghĩa cho đề tài này là một tập hợp các công cụ và tài nguyên công nghệ được sử dụng để kết nối thuận tiện, nhanh chóng và bảo mật, công nghệ này bao gồm các sản phẩm như: ATM, Internet Banking, 8 mobile banking, hệ thống chữ ký điện tử, ủy thác thanh toán. Trong đó tổng giá trị đầu tư công nghệ là khoản giá trị còn lại tại năm hiện hành trong mục phần mềm máy vi tính của báo cáo tài chính ngân hàng. Theo nghiên cứu của Casolaro và Gobbi (2007), giá trị biến IT- CAP (đại diện cho yếu tố đầu tư công nghệ) được lấy từ tổng số tiền đầu tư phần cứng và phần mềm cho hệ thống máy tính của ngân hàng.
Phần mềm được khấu hao 44% mỗi năm, phần cứng khấu hao 32% mỗi năm. Bên cạnh đó, nghiên cứu của Nyapara (2013), giá trị của biến ICT (công nghệ và truyền thông) là bao gồm giá trị phần cứng và phần mềm, không chỉ của hệ thống máy tính mà còn của hệ thống ATM, ngân hàng điện tử và ngân hàng di động. Mỗi nghiên cứu có cách đo lường biến chuyển đổi số (CĐS) khác nhau, trong nghiên cứu này số liệu mà tác giả thu thập từ báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại là nguồn duy nhất có thể đo lường được mức độ đầu tư công nghệ của các ngân thương mại tại Việt Nam. Do đó, công thức đo lường giá trị biến CĐS của tác giả trong luận văn này cụ thể như sau: CĐS = Tổng giá trị đầu tư phần mềm công nghệ/ tài sản vô hình Dựa vào kết quả nghiên cứu trước của Ho và cộng sự (2006), Casolaro và Gobbi (2007), Lin (2007), Nyapara (2013), tác giả đặt giả thuyết đầu tư công nghệ sẽ có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết về hiệu quả hoạt động ngân hàng 2. Khái niệm Hiệu quả là một phạm trù được sử dụng rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật, xã hội. Hiệu quả trong kinh tế được xem xét là mức độ thành công mà các đơn vị sản xuất hay NH đạt được trong việc phân bổ các nguồn lực đầu vào để có thể tối ưu hóa sản lượng đầu ra, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực, tiền vốn) để đạt được mục tiêu xác định (Nguyễn Khắc Minh, 2004). Nó biểu hiện mối quan hệ tương quan giữa kết quả thu được và toàn bộ chi phí bỏ ra để có kết quả đó, phản ánh được chất lượng của hoạt động kinh tế đó, độ 9 chênh lệch giữa hai đại lượng này càng lớn thì hiệu quả càng cao (Ngô Đình Giao, 1997).
Một doanh nghiệp hoặc NH được coi là hoạt động hiệu quả nếu nó đạt đến mức tối đa về kết quả đầu ra trong điều kiện sử dụng tối ưu các yếu tố đầu vào cho trước. Điều này có nghĩa là, để có được một sự gia tăng trong đầu ra bắt buộc phải có sự gia tăng các yếu tố đầu vào và ngược lại, không thể tìm cách giảm một yếu tố đầu vào nào mà không giảm kết quả đầu ra. Như vậy, HQHĐ của ngân hàng phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu, thể hiện mối tương quan giữa đầu ra và đầu vào để có được hiệu quả đặt ra cũng như khả năng giảm thiểu chi phí để tăng khả năng cạnh tranh với các định chế tài chính khác. Đo lường hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại Phương pháp thường được sử dụng để đo lường hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại là phương pháp phân tích bao dữ liệu DEA, đây là phương pháp được sử dụng ngày càng phổ biến để đo lường hiệu quả trong hoạt động kinh doanh NH hiện đại (Grigorian, 2002).
Phương pháp DEA được khởi xướng bởi Farrel (1957) và sau này được tiếp tục phát triển bởi Charnes, Cooper và Rhodes (1978); Banker, Charnes và Cooper (1984) và nhiều nhà khoa học khác nhằm đo lường hiệu quả kinh tế của một doanh nghiệp hay một đơn vị (Decision Making Unit – DMU). Các DMU có hiệu quả cao nhất sẽ xác lập nên một đường giới han khả năng sản xuất ( Production frontỉer), các DMU sẽ được so sánh với đường giới hạn này để xác định mức độ hiệu tương đối. Theo phương pháp DEA thì một đơn vị hoạt động tốt nhất sẽ có điểm hiệu quả kỹ thuật (Technical Efficiency – TE) là 1 và các đơn vị hoạt động kém hiệu quả hơn điểm hiệu quả kỹ thuật <1. Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy rằng, những thông tin thu được qua phân tích DEA rất có ích cho các nhà quản lý trong việc nhận diện thực để cải thiện tình hình đó.
Luận văn sử dụng phương pháp DEA được chính thức giới thiệu trong nghiên cứu của Charnes, Cooper, Rhodes (1978) và Banker, Charnes, Cooper (1984) gồm có mô hình hiệu quả không đổi theo quy mô (Constant returns to scale - CRS) và mô hình hiệu quả biến đổi theo quy mô (Variable returns to scale – VRS). Trong luận văn sử dụng điểm hiệu quả kỹ thuật TE với giả định CRS.