chương 1, tác giả đã giới thiệu tổng quan về lý do lựa chọn đề tài, mục tiêu, đối tượng, phương pháp nghiên cứu và kết cấu chính của đề tài. Những khái quát an đầu này sẽ giúp người đọc có cái nhìn sơ ộ về đề tài nghiên cứu của tác giả, giúp hiểu rõ hơn các nội dung sẽ được trình bày tiếp ở các chương sau. 7 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ KHẢ NĂNG THANH KHOẢN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 2.1 Rủi ro tín dụng của ngân hàng thƣơng mại 2.1 Khái niệm tín dụng và rủi ro tín dụng 2.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng Tín dụng là mối quan hệ giữa hai chủ thể dựa trên sự tin tưởng lẫn nhau, trong đó có sự chuyển giao có thời hạn một lượng giá trị từ phía người sở hữu sang người sử dụng và người sử dụng sẽ hoàn trả một lượng giá trị lớn hơn an đầu vào thời điểm đáo hạn. Có nhiều loại tín dụng phổ biến có thể kể đến như tín dụng thương mại, tín dụng nhà nước và tín dụng ngân hàng.
“Tín dụng ngân hàng là việc ngân hàng chấp thuận để khách hàng sử dụng một lượng tài sản (bằng tiền, tài sản thực hoặc uy tín) trên cơ sở lòng tin khách hàng có khả năng hoàn trả gốc và lãi khi đến hạn”. (Nguy n Văn Tiến, 2012) Từ định nghĩa trên ta có thể thấy, tín dụng ngân hàng chính là việc chuyển nhượng tạm thời một lượng vốn mà trong đó NHTM vừa đóng vai trò là người đi vay và cho vay. Với tư cách là một trung gian tài chính, NHTM đi vay của người tạm thời thừa vốn trong nền kinh tế và cho người tạm thời thiếu hụt vốn vay lại với niềm tin rằng sẽ được hoàn trả đầy đủ cả gốc lẫn lãi vào ngày đến hạn. Các hình thức cấp tín dụng phổ biến trong NHTM có thể kể đến như cho vay, cho thuê tài chính, ảo lãnh, chiết khấu, phát hành tín dụng thư, ao thanh toán… 2.2 Khái niệm rủi ro tín dụng RRTD được định nghĩa là loại rủi ro xảy ra khi người vay không thanh toán được nợ theo thỏa thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ (Thomas Fitch, 1977).
Có thể hiểu đơn giản, rủi ro tín dụng là những rủi ro làm phát sinh tổn thất trong quá trình cấp tín dụng mà trong đó người đi vay không có khả năng trả nợ (gốc hoặc lãi), hoặc trả nợ không đúng thời hạn đã cam kết cho ngân hàng. 8 RRTD là một trong những mối lo ngại của ngân hàng vì rủi ro này không những ảnh hưởng đến lợi nhuận và uy tín của ngân hàng mà còn ảnh hưởng đến sự tồn tại của NHTM. RRTD có thể làm giảm thu nhập ròng, giảm lợi nhuận và giảm giá trị của ngân hàng. Bên cạnh đó tại Việt Nam- nơi nghiệp vụ tín dụng được xem là kênh sinh lời chủ yếu của NHTM bên cạnh các nghiệp vụ khác- dù chỉ một lượng nhỏ khách hàng phát sinh rủi ro tín dụng cũng có thể dẫn đến sự giảm sút lợi nhuận lớn cho ngân hàng.2 Nguyên nhân và phân loại rủi ro tín dụng 2.1 Nguyên nhân phát sinh a) Các yếu tố bên ngoài ngân hàng Môi trường kinh tế: Nền kinh tế rơi vào suy thoái, hoặc quá trình tự do hóa tài chính, hội nhập quốc tế tạo ra sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường… khiến khách hàng vay vốn kinh doanh kém hiệu quả hoặc thu lỗ mất khả năng trả nợ.
Môi trường pháp lý: Khe hở trong thực thi pháp luật, việc thanh tra giám sát còn lỏng lẻo, chưa hiệu quả. Môi trường xã hội: Biến động trong nền kinh tế, chính trị xã hội… ảnh hưởng xấu đến tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp vay vốn. Khách hàng vay vốn: Bản thân khách hàng vay vốn có chiến lược kinh doanh kém hiệu quả gây thua lỗ, mất vốn hoặc sử dụng vốn sai mục đích đã cam kết và không có thiện chí trong việc trả nợ. b) Các yếu tố bên trong ngân hàng Rủi ro do chính sách tín dụng của ngân hàng: Các chính sách, điều khoản cấp tín dụng không rõ ràng, chặt chẽ của ngân hàng tạo khe hở cho người đi vay hủy hoặc trì hoãn thực hiện các cam kết với ngân hàng.
Do năng lực yếu kém của cán bộ ngân hàng: Cán bộ đề xuất, thẩm định, xét duyệt vay vốn không đủ trình độ năng lực hoặc xói mòn đạo đức nghề nghiệp dẫn đến cấp 9 vốn cho các dự án không hiệu quả từ đó gây rủi ro ngân hàng hoặc thậm chí mất vốn. Thiếu kiểm tra giám sát sau vay vốn: Cán bộ ngân hàng không chặt chẽ trong công tác kiểm tra sau cho vay dẫn đến việc không phát hiện trường hợp khách hàng sử dụng vốn sai mục đích, không theo dõi việc thực hiện các cam kết cho vay của khách hàng từ đó không phát hiện rủi ro khi vừa phát sinh.2 Phân loại rủi ro tín dụng Theo Peter Rose (2012), căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro mà phân rủi ro tín dụng thành 2 nhóm là rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục: Rủi ro giao dịch: RRTD phát sinh do những hạn chế trong quá trình giao dịch với khách hàng, đánh giá, thẩm định khách hàng và xét duyệt hồ sơ cho vay. Rủi ro giao dịch bao gồm RR lựa chọn, RR bảo đảm và RR nghiệp vụ. - Rủi ro lựa chọn: Là rủi ro phát sinh do ngân hàng lựa chọn khách hàng, phương án để ra quyết định tài trợ vốn.
- Rủi ro bảo đảm: Là rủi ro phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm cho khoản vay như các điều khoản trong hợp đồng, các tài sản bảo đảm cho khoản vay… - Rủi ro nghiệp vụ: Là rủi ro phát sinh từ công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay. Rủi ro danh mục: Là rủi ro phát sinh do tồn tại những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng gồm RR nội tại và RR tập trung. - Rủi ro nội tại: Là rủi ro phát sinh từ các đặc điểm riêng biệt hoặc ngành kinh doanh của mỗi chủ thể đi vay. - Rủi ro tập trung: Là rủi ro phát sinh do ngân hàng tập trung tài trợ một giá trị quá lớn cho một hoặc một nhóm khách hàng, tập trung tài trợ cho các doanh nghiệp trong cùng một ngành, cùng một khu vực địa lý… 2.3 Các chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng 1 Theo Nguy n Văn Tiến (2012), để đo lường rủi ro tín dụng có rất nhiều chỉ tiêu phản ánh nợ quá hạn, chỉ tiêu phản ánh nợ xấu, chỉ tiêu trích lập dự phòng và bù đắp RRTD, chỉ tiêu phân tán rủi ro, chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn.
nhưng người ta thường quan tâm đến các chỉ tiêu phổ biến sau đây: 2.1 Nợ xấu Cách tiếp cận truyền thống đo lường rủi ro tín dụng được thực hiện thông qua các chỉ tiêu như hệ số nợ quá hạn, hệ số nợ xấu, hệ số rủi ro mất vốn, hệ số khả năng ù đắp rủi ro. Trong các chỉ tiêu này, nợ xấu là chỉ tiêu phổ biến nhất để đo lường rủi ro tín dụng. Theo quan điểm của IMF: “Một khoản cho vay được coi là không sinh lời (nợ xấu) khi tiền thanh toán lãi và/hoặc tiền gốc đã quá hạn từ 90 ngày trở lên, hoặc các khoản thanh toán lãi đến 90 ngày hoặc hơn đã được tái cơ cấu hay gia hạn nợ, hoặc các khoản thanh toán dưới 90 ngày nhưng có các nguyên nhân nghi ngờ việc trả nợ sẽ được thực hiện đầy đủ”. Tại Việt Nam, theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 được sửa đổi bổ sung bởi Thông tư 09/2014/TT-NHNN của NHNNVN, Nợ của NHTM hiện nay dựa theo chất lượng tín dụng được phân vào 5 nhóm như sau: - Nợ nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn): là các khoản nợ trong hạn và quá hạn dưới 10 ngày được TCTD đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc, lãi và lãi quá hạn (nếu có).
- Nợ nhóm 2 (Nợ cần chú ý): Là các khoản nợ quá hạn từ 10 đến 90 ngày và các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu. - Nợ nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn): Là các khoản nợ quá hạn từ 91 đến 180 ngày, các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu và các khoản nợ được giảm mi n lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng. 1 - Nợ nhóm 4 (Nợ nghi ngờ): Là các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày, các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu và các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai. - Nợ nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn): Là các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày, các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu, các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai, các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn và các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý.
Trong đó, Nợ xấu là các khoản nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5. Đây là các khoản cấp tín dụng khó hoặc không có khả năng thu hồi vốn do khách hàng làm ăn thua lỗ, lừa đảo, bỏ trốn, không có thiện chí hợp tác trả nợ. Tỷ lệ nợ xấu được tính toán như sau: Chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu càng cao phản ánh chất lượng tín dụng càng thấp, đồng nghĩa rủi ro tín dụng càng cao. Nguy cơ khách hàng không trả nợ cho ngân hàng càng lớn.2 Tỷ lệ dự phòng rủi ro Dự phòng rủi ro theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN là “số tiền được trích lập và hạch toán vào chi phí hoạt động để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Dự phòng rủi ro gồm dự phòng cụ thể và dự phòng chung”. Trong đó dự phòng cụ thể là số tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với từng khoản nợ cụ thể, và dự phòng chung trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra nhưng chưa xác định được khi trích lập dự phòng cụ thể. NHTM có Tỷ lệ DPRR càng cao nghĩa là càng chịu nhiều RRTD. Thường tỷ lệ này dao động trong khoảng từ 0% đến 5%.