chương 1 của luận văn, tác giả đã vạch ra định hướng nghiên cứu nhằm đạt được các mục tiêu với những nền tảng, công cụ cần thiết chuẩn bị. Với các phần tiếp theo sau của luận văn, tác giả sẽ bám sát định hướng đề ra và từng bước đạt đến mục tiêu ban đầu đề ra. 9 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Cơ sở lý luận về tăng trưởng tín dụng của ngân hàng thương mại 2.1 Tín dụng của ngân hàng thương mại 2.1 Khái niệm tín dụng của ngân hàng thương mại Theo Lê Thị Mận (2010), có thể hiểu tín dụng ngân hàng theo một trong các khái niệm sau: (i) Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng bằng tiền giữa một bên là ngân hàng với một bên là khách hàng của ngân hàng; (ii) Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng bằng tiền giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể kinh tế khác) trong đó bên cho vay ứng trước vốn bằng tiền cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vốn gốc và lãi cho bên vay khi đến hạn thanh toán; (iii) Tín dụng ngân hàng thực chất là sự chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn từ ngân hàng sang khách hàng, sự chuyển nhượng này có thời hạn và chi phí theo thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng. Chúng ta thường hay nhầm lẫn cho rằng hoạt động tín dụng và hoạt động cho vay là một.
Tuy nhiên theo định nghĩa trên thì hoạt động tín dụng của ngân hàng phong phú và đa dạng hơn nhiều, hay nói cách khác cho vay chỉ là một hình thức của tín dụng ngân hàng. Cụ thể thì cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một khoảng thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Như vậy, nội dung tín dụng là rộng hơn nội dung cho vay, tuy nhiên trong hoạt động tín dụng thì cho vay là hoạt động quan trọng nhất và chiếm tỷ trọng lớn nhất. Vì vậy, thuật ngữ tín dụng có thể được hiểu theo nghĩa rộng khái quát như ở trên hoặc theo nghĩa hẹp là cho vay.2 Phân loại tín dụng của ngân hàng thương mại Để có cái nhìn tổng quan về các loại hình tín dụng, căn cứ vào các tiêu chí khác nhau, tín dụng được phân loại căn cứ theo: Căn cứ vào thời hạn tín dụng: 1 Tín dụng ngắn hạn có thời hạn không quá 12 tháng nhằm đáp ứng các nhu cầu về vốn ngắn hạn như bổ sung ngân quỹ, đảm bảo yêu cầu thanh toán đến hạn, bổ sung nhu cầu vốn lưu động cho sản xuất, kinh doanh hoặc đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cá nhân.
Căn cứ vào tính chất của việc cấp vốn và phương pháp cho vay của ngân hàng, các hình thức cụ thể của cho vay ngắn hạn bao gồm: chiết khấu chứng từ có giá, cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức tín dụng, thấu chi, bao thanh toán… Tín dụng trung - dài hạn có thời hạn cho trên 12 tháng, tín dụng trung hạn có thời hạn từ trên 12 tháng đến 60 tháng, tín dụng dài hạn có thời hạn trên 60 tháng. Tín dụng trung - dài hạn cho doanh nghiệp chủ yếu phục vụ cho việc thực hiện các dự án đổi mới, mở rộng sản xuất - kinh doanh và đầu tư xây dựng cơ bản mới. Vì thời hạn dài nên loại tín dụng này chứa đựng mức rủi ro cao, kể cả rủi ro cá biệt và rủi ro hệ thống. Các hình thức cho vay trung - dài hạn bao gồm: cho vay theo dự án đầu tư, cho vay hợp vốn, cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng, cho thuê tài chính… Căn cứ vào hình thức cấp tín dụng: Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó ngân hàng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi.
Chiết khấu là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán. Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó ngân hàng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc ngân hàng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho ngân hàng theo thỏa thuận. Bao thanh toán là hình thức cấp tín dụng của ngân hàng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo theo hợp đồng mua, bán bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ. 1 Cho thuê tài chính là việc ngân hàng xuất tiền mua tài sản để cho khách hàng thuê theo những thỏa thuận của hợp đồng cho thuê.
Sau thời gian nhất định, khách hàng phải trả đủ gốc và lãi cho ngân hàng. Đây là phương thức vay tài sản thông qua hợp đồng cho thuê, kèm theo lời hứa đơn phương bán cho người thuê một giá nhất định sau thời hạn cho thuê (có tính đến số tiền thuê đã trả). Căn cứ vào hình thức bảo đảm: Tín dụng có bảo đảm là tín dụng có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc có bảo lãnh của người thứ ba. Hình thức tín dụng này áp dụng đối với những khách hàng không đủ uy tín, khi vay vốn phải có tài sản bảo đảm hoặc phải có nguời bảo lãnh.
Tài sản bảo đảm hoặc bảo lãnh của người thứ ba là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm nguồn thu dự phòng khi nguồn thu chính (dòng tiền) của con nợ thiếu hụt. Do lo sợ phát mại tài sản đã tạo áp lực buộc con nợ phải trả nợ, giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng. Tín dụng không có bảo đảm là tín dụng không cỏ tài sản cầm cố, thế chấp hay không có bảo lãnh của người thứ ba. Loại tín dụng này áp dụng cho những khách hàng truyền thống, tín nhiệm cao, số tiền vay không lớn, thời hạn ngắn.
Căn cứ vào phương pháp hoàn trả: Tín dụng hoàn trả nhiều lần là loại tín dụng này áp dụng cho những khoản vay lớn và có thời hạn dài. Tín dụng trả góp là loại tín dụng mà khách hàng phải hoàn trả vốn gốc và lãi vay định kỳ thành những khoản bằng nhau, thường dùng trong mua nhà trả góp. Tín dụng hoàn trả một lần là loại tín dụng mà khách hàng chi hoàn trả vốn gốc và lãi vay một lần khi đến hạn. Loại tín dụng này áp dụng cho những khoản vay nhỏ và có thời hạn ngắn.
Tín dụng hoàn trả theo yêu cầu là loại tín dụng mà khách hàng có thể hoàn trả nợ vay bất cứ khi nào. Loại tín dụng này thường áp dụng cho những khoản vay thấu chi, thẻ tín dụng.2 Tăng trưởng tín dụng của ngân hàng thương mại 2.1 Nội dung tăng trưởng tín dụng Là một yếu tố quan trọng trong hoạt động cấp tín dụng hay cụ thể hơn là hoạt động cho vay, tăng trưởng tín dụng được hiểu là việc các ngân hàng sử dụng các biện pháp nhằm tăng nguồn vốn huy động, để từ đó đáp ứng cho nhu cầu cấp tín dụng cho các đối tượng khác nhau trong nền kinh tế, từng bước nâng cao lợi nhuận, thị phần và thương hiệu của ngân hàng trên thị trường (Nguyễn Văn Tiến, 2013). Tăng trưởng tín dụng theo đó được hiểu là sự gia tăng của các khoản tín dụng do hệ thống ngân hàng cung cấp cho các khách hàng và các cá nhân, tổ chức khác trong nền kinh tế trên cơ sở lợi nhuận của ngân hàng và đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế xã hội của quốc gia. Dư nợ tín dụng để làm cơ sở cho việc xác định tăng trưởng tín dụng về bản chất được hiểu là toàn bộ số dư tại một thời điểm cụ thể của các khoản cấp tín dụng của ngân hàng cho cá nhân, tổ chức dưới hình thức cho vay, chiết khấu giấy tờ có giá, cho thuê tài chính, bao thanh toán hay các nghiệp vụ cấp tín dụng khác được chấp thuận.
Đây là cách hiểu tổng quát và đầy đủ nhất về ý nghĩa của tăng trưởng tín dụng. Tuy nhiên trong thực tế kinh doanh ngân hàng hay trong quá trình nghiên cứu của giới học thuật, tăng trưởng tín dụng có khi chỉ xét đến yếu tố cho vay khách hàng mà không tính đến các loại hình cấp tín dụng khác, do cho vay là khoản mục trọng yếu và đặc thù nhất trong hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng. Từ cơ sở này, luận văn cũng sẽ giới hạn hoạt động tín dụng để làm cơ sở cho việc xác định tăng trưởng tín dụng chỉ được tính đến hoạt động cho vay khách hàng của ngân hàng.2 Vai trò tăng trưởng tín dụng Về phía ngân hàng thương mại Tín dụng là hoạt động trọng tâm và đóng góp lớn nhất vào lợi nhuận của các ngân hàng. Như vậy để hướng tới nguồn lợi nhuận ổn định, tăng trưởng là mong muốn của các cổ đông thì các ngân hàng phải tập trung vào công tác tín dụng với những định hướng phù hợp, đảm bảo tính hiệu quả trong chất lượng tín dụng và mức tăng trưởng hợp lý.
Mặc dù nguồn thu từ hoạt động phi tín dụng của ngân hàng có 1 tăng lên trong những năm gần đây nhưng xét về tổng thể thì tín dụng vẫn đem lại lợi ích chi phối. Do đó vấn đề về tăng trưởng tín dụng luôn rất quan trọng với các ngân hàng, ảnh hưởng trực tiếp đến “sức khoẻ” của bất kỳ ngân hàng nào. Về phía nền kinh tế Tăng trưởng tín dụng là biểu hiệu cho nguồn lực thúc đẩy sự phát triển của kinh tế xã hội. Các ngân hàng mở rộng tín dụng sẽ tạo điều kiện cho các cá nhân, doanh nghiệp được bổ sung nguồn vốn thiếu hụt phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc có thể mở rộng cơ sở kinh doanh, đầu tư mới hay cải tạo các dự án nhằm mang lại giá trị về mặt kinh tế.
Tín dụng được xem là xương sống của nền kinh tế bất kỳ quốc gia nào và từ đó tăng trưởng tín dụng được xem là nền tảng, là động lực giúp kinh tế quốc gia phát triển một cách trực tiếp.