chương 1, tác giả đã khái quát được lý do mà tác giả muốn chọn để làm vấn đề nghiên cứu đó là “Tác động của tỷ giá đến cán cân thương mại Việt Nam”. Đồng thời tác giả đã nêu được các mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu cũng như các đóng góp của đề tài mà tác giả hướng đến. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TỶ GIÁ VÀ CÁN CÂN THƯƠNG MẠI 2. Lý thuyết liên quan đến tỷ giá 2.
Khái niệm tỷ giá Tỷ giá hối đoái theo Krugman và cộng sự (2012) được xem là giá của đồng tiền tại một quốc gia đang xét tới với giá của một đồng tiền tại một quốc gia khác, hay nó được xem là tỷ lệ quy đổi của một đồng tiền tại quốc gia này so với đồng tiền tại quốc gia khác, hay là lượng ngoại tệ được dùng để quy đổi một đồng nội tệ. Lê Phan Thị Diệu Thảo và cộng sự (2015) cho rằng “tỷ giá là giá của một đơn vị tiền tệ này được biểu thị thông qua một số lượng đơn vị tiền tệ khác”. Ví dụ, tại một thời điểm, tỷ giá giữa hai đồng tiền USD và VND đang được giao dịch ở mức USD1=VND22,800 và tỷ giá giữa hai đồng tiền EUR và USD đang được giao dịch ở mức EUR1=USD1.2560; trong ví dụ này, tỷ giá USD1=VND22,800 cho biết giá của 01 USD là 22,800VND, còn tỷ giá EUR1=USD1.2560 cho biết giá của 01 EUR là 1. Đối với chế độ bản vị vàng, quan hệ so sánh chênh lệch 2 đồng tiền vàng của 2 nước với nhau hoặc là so sánh chênh lệch hàm lượng vàng của 2 đồng tiền 2 nước với nhau được coi là tỷ giá hối đoái.
Ví dụ: 1 bảng Anh được quy đổi xấp xỉ 2.488 gram vàng, 1 đô la Mỹ thì là 0.889 gram vàng vì vậy chúng ta có thể lấy sự quy đổi đó lấy chênh lệch quy đổi ra tỷ giá so sánh giữa bảng Anh và đô la Mỹ như sau: 1 bảng Anh = 2. Vì vậy, trong chế độ tính bản vị hối đoái thì tỷ giá hối đoái được xem là giá cả của đơn vị tiền tệ của quốc gia được tính so với một quốc gia khác hay có thể xem là mối quan hệ so sánh giữa giá cả của 2 quốc gia khác nhau. Ta có hai cách để yết giá đó là yết giá trực tiếp và yết giá gián tiếp: Yết giá trực tiếp là cách yết mà tỷ giá đồng ngoại tệ sẽ được tính theo đơn vị của đồng nội tệ. Ví dụ tỷ giá đô la Mỹ/ Việt Nam đồng vào ngày 10/11/2020 là 23,370 Việt Nam đồng, ở đây tính là giá trị 1 đô la Mỹ được thể hiện trực tiếp bằng đồng Việt Nam.
8 Yết giá gián tiếp là cách yết mà tỷ giá đồng nội tệ sẽ được tính theo đơn vị của đồng ngoại tệ. Ví dụ tại ngân hàng ở Anh thì ngân hàng yết giá 1 bảng Anh = 1.823 đô la Mỹ, ở đây tính là giá trị đồng nội tệ bảng Anh được yết gián tiếp thông qua đồng đô la Mỹ là đồng ngoại tệ. Trong khi yết tỷ giá thì đồng tiền nào đứng trước gọi là đồng yết giá hay đồng tiền đơn vị, đồng tiền đứng sau gọi là đồng định giá là một số đơn vị tiền tệ phụ thuộc vào sự thay đổi của đồng yết giá. Lê Phan Thị Diệu Thảo và cộng sự (2015) cũng cho rằng “tỷ giá biểu thị tương quan giá trị giữa hai đồng tiền cấu thành tỷ giá”.
Trong nghiên cứu này thì tác giả sử dụng cách yết lấy đồng ngoại tệ quy đổi ra đồng nội tệ, điều này có nghĩa là nếu tỷ giá tăng lên sẽ làm mất giá đồng nội tệ và ngoại tệ lên giá hay ngược lại. Phân loại tỷ giá Theo Krugman và cộng sự (2012) thì tỷ giá cũng được phân loại theo các tiêu thức đó là kỳ hạn, tính chất tỷ giá, phương thức thanh toán, hoạt động thanh toán ngoại thương và chế độ tỷ giá. Căn cứ vào tiêu thức thời điểm thanh toán, tỷ giá được chia thành 2 loại: Tỷ giá giao ngay Tỷ giá kỳ hạn Đây là loại tỷ giá được sử dụng cho các Đây là loại tỷ giá được sử dụng cho hoạt động giao dịch thương mại trong các hợp đồng ngoại thương có tính ngày hoặc là ngày làm việc chậm sau chất thời hạn, thời hạn của các hợp hai ngày tuy nhiên sẽ loại trừ những đồng này được tính bắt đầu từ ngày ký ngày nghỉ cuối tuần và những ngày hợp đồng đến ngày hiệu lực của tiền nghỉ hàng tuần tại các quốc gia Hồi trong khoảng thời gian 1, 3, 6, 9 hay giáo. 9 Căn cứ vào tiêu thức tính chất của tỷ giá, tỷ giá được chia thành 2 loại: Tỷ giá danh nghĩa Tỷ giá thực tế Đây là loại tỷ giá được Đây là loại tỷ giá danh nghĩa đã được tính toán tính toán dựa trên giá trị theo giá tương đối của các quốc gia trong đó đã danh nghĩa của đồng tiền, tính đến yếu tố sức mua trong thực tế và sự cạnh tỷ giá này hoàn toàn tranh hàng hóa của các quốc gia.
Đối với các không thể hiện sự cạnh phương tiện thông tin quảng bá rộng lớn thì tỷ giá tranh của các loại sản này là tỷ giá được công bố rộng rãi. Công thức để phẩm, hàng hóa trong tính tỷ giá thực tế: Tỷ giá thực tế = Tỷ giá danh nước tại các giao dịch nghĩa * chênh lệch của mức giá nước ngoài / thương mại XNK quốc tế. mức giá trong nước. Căn cứ vào tiêu thức phương tiện thanh toán, tỷ giá được chia thành 2 loại: Tỷ giá điện hối Tỷ giá thư hối Đây là loại tỷ giá ngoại hối chuyển Đây là loại tỷ giá chuyển ngoại hối bằng điện được xem là cơ sở để tính thông qua thư.
toán các loại tỷ giá khác. Căn cứ vào tiêu thức cơ chế quản lý ngoại hối, tỷ giá được chia thành 2 loại: Đối với các quốc gia chưa phát triển hoặc phát triển kém thì tại thị trường ngoại hối xuất hiện tình trạng thị trường chợ đen, lúc này tỷ giá lại được chia thành hai loại một là loại do ngân hàng nhà nước quy định; hai là tỷ giá tại chợ đen do sự quan hệ mật thiết cầu và cung tiền tệ chi phối. Căn cứ vào tiêu thức hoạt động thanh toán ngoại thương, tỷ giá được chia thành 2 loại: 1 Tỷ giá xuất khẩu Tỷ giá nhập khẩu Đây là loại tỷ giá được tính dựa trên giá Đây là loại tỷ giá được tính dựa trên cả hàng hóa đem XK với điều kiện giao tỷ số giữa giá bán buôn của hàng NK lên tàu (FOB) bằng giá ngoại tệ với giá tại cảng bến theo đồng nội tệ với giá buôn của doanh nghiệp cộng thêm thuế NK tính bằng đồng ngoại tệ. XK tính dựa trên đồng nội tệ.
Tỷ giá NK và tỷ giá XK là hai khái niệm chính xác hơn khái niệm tỷ suất phí giữa hoạt động NK và hoạt động XK. Đối với các doanh nghiệp XNK thì để tối đa hóa lãi thì tỷ giá XK < tỷ giá chính thức < tỷ giá NK. Căn cứ vào tiêu thức chế độ tỷ giá hối đoái, tỷ giá được chia thành 3 loại: Tỷ giá thả nổi có Tỷ giá hối đoái cố định Tỷ giá thả nổi hoàn toàn quản lý Đây là loại tỷ giá được nhà Đây là loại tỷ giá được xét Đây là loại tỷ giá nước quản lý, chỉ đạo niêm dựa vào việc thông qua được sử dụng phổ yết cố định quan hệ giữa quan hệ cung cầu trên thị biến nhất vì nó là đồng ngoại tệ và nội tệ. trường ngoại hối.
phối hợp của tỷ giá hối đoái cố định và tỷ giá thả nổi hoàn toàn tuy nhiên nó được điều chỉnh để cải thiện những khuyết điểm của hai loại tỷ giá trên. Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ giá Các yếu tố thuộc về dài hạn Tương quan lạm phát giữa hai đồng tiền Theo Krugman và cộng sự (2012) thì tỷ giá giữa hai đồng tiền phải biến động để phản ánh tương quan lạm phát giữa chúng theo lý thuyết ngang giá sức mua có công thức như sau: 𝗌− 𝗌∗ ∆𝑬 = ∗ 𝟏𝟎𝟎% (2.1) 𝟏+ 𝗌∗ Trong đó: ∆𝐸 gọi là tỷ lệ thay đổi tỷ giá qua một năm Tỷ lệ lạm phát tính theo một năm trong nước là 𝜀 Tỷ lệ lạm phát tính theo một năm ở nước ngoài là 𝜀∗ Trong ngắn hạn thì tỷ lệ lạm phát trong nước và nước ngoài có sự thay đổi không đáng kể tuy nhiên trong dài hạn thì sự thay đổi có xu thế thường xuyên và rõ rệt. Do đó, sự tương quan lạm phát sẽ được tính đến trong xu hướng dài hạn. Vì vậy, tỷ giá thay đổi hay biến động do yếu tố lạm phát hay chênh lệch lạm phát giữa hai đồng tiền thì quốc gia nào có tỷ lệ lạm phát cao hơn thì sức mua của đồng tiền tại quốc gia đó sẽ giảm đi (Krugman và cộng sự, 2012).
Xét về góc độ lý thuyết thì ngoại hối cũng là một loại hàng hóa rất đặc biệt vì thế ngoại hối có tính chất được định giá. Giá của ngoại hối cũng được nhiều yếu tố tác động và nó cũng biến động theo các yếu tố đó ví dụ như lạm phát, giảm phát hay quan hệ cung cầu ngoại hối trong thị trường. theo các nghiên cứu thì tỷ lệ lạm phát là một yếu tố ảnh hưởng rất nhiều đến tỷ giá hối đoái, cụ thể là tỷ giá thực vì tỷ giá này được tính dựa trên tỷ giá danh nghĩa và tỷ lệ lạm phát. Vì vậy, chính phủ khi đưa ra các công cụ để quản lý giá thì lạm phát là yếu tố không thể bỏ qua và cần được phân tích kĩ lưỡng để phòng tránh những rủi ro có thể xảy ra với yếu tố này.
Giá cả hàng hóa thế giới XK hay NK lần lượt tăng hay giảm đều có tác động trong việc cải thiện CCTM, nó tác động làm cho cung tăng, cầu giảm về ngoại tệ hay khiến 1 tỷ giá giảm xuống. Điều này ngược lại giá cả hàng hóa thế giới XK hay NK lần lượt giảm hay tăng đều có tác động trong việc CCTM sẽ xấu đi, nó tác động làm cho cung giảm, cầu tăng về ngoại tệ hay khiến tỷ giá tăng lên. Thu nhập thực của người không cư trú và người cư trú Xét về thu nhập thực của người không cư trú và người cư trú theo Krugman và cộng sự (2012) thì thu nhập thực của người không cư trú thấp hơn so với người cư trú nhiều, điều này tác động làm NK ròng tăng lên, cầu ngoại tệ tăng lên tác động làm tăng tỷ giá lên.