CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về chỗ ở Theo quy định tại Khoản 9 Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 thì chỗ ở được định nghĩa: Chỗ ở là nhà ở, phương tiện hoặc nhà khác mà công dân sử dụng để cư trú. Chỗ ở thuộc quyền sở hữu của công dân hoặc được cơ quan, tổ chức, cá nhân cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ theo quy định của pháp luật.
Theo quan điểm của nhóm, chỗ ở còn là nơi trú ngụ hay nhà ở, là phương tiện để chúng ta cư trú hoặc trú ẩn. Chỗ ở thuộc quyền sở hữu của cá nhân, tổ chức hoặc có thể được cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ theo quy định của pháp luật. Khái niệm KTX Trong nghiên cứu của tác giả Đào Thúy Hằng và các cộng sự (2014), KTX (Campus) là khu khuôn viên của trường, cùng nằm chung hoặc có thể cách xa trường một khoảng cách ngắn và có thể ở trên cùng một diện tích là các học viện, thư viện, các sân chơi thể thao, các hội thể thao, các khu nhà ở. Nhờ đặc điểm này, sinh viên không phải mất thời giờ nhiều để di chuyển từ chỗ này đến chỗ khác hoặc có thể thoải mái tham gia các hoạt động thể dục thể thao trong khuôn viên của KTX cũng như tham gia học ở thư viện thuận tiện hơn.
Theo phân tích chữ trong phiên âm Hán-Việt: “Ký” là ở nhờ, ở tạm; “Túc” là nghỉ lại, ở lại, nghỉ qua đêm; “Xá” là ngôi nhà, nhà ở tập thể. Vậy KTX là một ngôi nhà lớn, nhà tập thể dành cho người ở lại, nghỉ lại một cách tạm thời trong một thời gian nhất định. Theo quan điểm của nhóm, KTX là những tòa nhà, khu cư trú tập trung của sinh viên, cung cấp chỗ ở cho sinh viên trong thời gian học tập. KTX được xây dựng nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của sinh viên, đầy đủ tiện nghi với mức giá thấp.
KTX thường được xây gần các trường đại học để sinh viên dễ dàng di chuyển đến trường. Khái niệm nhà trọ Theo nghiên cứu của Trần Trung Hiếu (2017), nhà trọ là những ngôi nhà ở hay là cơ sở, công trình kiến trúc được xây dựng hoặc sử dụng để cung cấp chỗ ở tạm thời cho một hoặc nhiều người, và người thuê trọ phải trả cho người chủ trọ một khoản phí gọi là tiền thuê trọ. Phòng trọ là một phòng trong một tòa nhà hoặc dãy nhà. luan an 13 Theo quan điểm của nhóm, nhà trọ là cơ sở hay kiến trúc được xây dựng và sử dụng cung cấp chỗ ở tạm thời cho một người hoặc nhiều người.
Nhà trọ là tài sản được dùng để trao đổi, giao dịch buôn bán giữa hai bên chủ nhà trọ và người thuê trọ về dịch vụ chỗ ở. Người thuê trọ có được chỗ ở ổn định và chủ nhà trọ nhận được khoản phí do họ đặt ra cho người thuê. Nhà trọ hiện nay được phát triển thành nhiều loại hình khác nhau dành cho nhiều đối tượng để đáp ứng được nhu cầu thiết yếu cho từng nhu cầu khác nhau của người thuê trọ. Thuyết phân cấp nhu cầu Thuyết phân cấp nhu cầu của A.Maslow đóng vai trò quan trọng trong việc ra quyết định của người tiêu dùng.
Hệ thống cấp bậc nhu cầu của A.Maslow thường được thể hiện dưới dạng một hình kim tự tháp, các nhu cầu ở bậc thấp thì càng xếp phía dưới, nghĩa là trước khi kích hoạt nhu cầu cao hơn thì nhu cầu thấp hơn phải được đáp ứng. Tháp nhu cầu của A.Maslow (Nguồn: Maslow 1943) Nhu cầu cơ bản (basic needs): Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu sinh lý (physiological needs), bao gồm các nhu cầu cơ bản của con người như ăn, uống, ngủ, không khí để thở, tình dục, các nhu cầu làm cho con người thoải mái (cơ sở vật chất và dịch vụ), giao thông công cộng v.v… đây là những nhu cầu cơ bản nhất và mạnh nhất của con người. Trong hình kim tự tháp, chúng ta thấy những nhu cầu này được xếp vào bậc thấp nhất: bậc luan an 14 cơ bản nhất.Maslow cho rằng, những nhu cầu ở mức độ cao hơn sẽ không xuất hiện trừ khi những nhu cầu cơ bản này được thỏa mãn và những nhu cầu cơ bản này sẽ chế ngự, hối thúc, giục giã một người hành động khi nhu cầu cơ bản này chưa đạt được. Chúng ta có thể kiểm chứng dễ dàng điều này khi cơ thể không khỏe mạnh (đói khát hoặc bệnh tật), lúc đó các nhu cầu khác chỉ còn là thứ yếu.
Nhu cầu về an toàn, an ninh (safety/security needs): Khi con người đã được đáp ứng các nhu cầu cơ bản, tức các nhu cầu này không còn điều khiển suy nghĩ và hành động của họ nữa, các nhu cầu về an toàn, an ninh sẽ bắt đầu được kích hoạt. Nhu cầu an toàn và an ninh này thể hiện trong cả thể chất lẫn tinh thần. Con người mong muốn có sự bảo vệ cho sự sống còn của mình khỏi các nguy hiểm. Nhu cầu này sẽ trở thành động cơ hoạt động trong các trường hợp khẩn cấp, nguy khốn đến tính mạng như chiến tranh, thiên tai, gặp thú dữ v.v… Nhu cầu này cũng thường được khẳng định thông qua các mong muốn về sự ổn định trong cuộc sống, được sống trong các khu phố an ninh, sống trong xã hội pháp luật, có nhà cửa để ở v.v… Nhu cầu về xã hội (social needs): Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu mong muốn thuộc về một bộ phận, một tổ chức nào đó hoặc nhu cầu về tình cảm, tình thương.
Nhu cầu này thể hiện qua quá trình giao tiếp như việc tìm kiếm, kết bạn, tìm người yêu, lập gia đình, tham gia một cộng đồng nào đó, làm việc nhóm v. Nhu cầu này là một dấu vết của bản chất sống theo bầy đàn của loài người chúng ta từ buổi bình minh của nhân loại.Maslow xếp nhu cầu này sau hai nhu cầu phía trên, nhưng ông nhấn mạnh rằng nếu nhu cầu này không được thoả mãn, đáp ứng, nó có thể gây ra các bệnh trầm trọng. Nhu cầu về được tôn trọng (esteem needs): Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu tự trọng vì nó thể hiện 2 cấp độ: nhu cầu được người khác quý mến, nể trọng thông qua các thành quả của bản thân và nhu cầu cảm nhận, quý trọng chính bản thân, danh tiếng của mình, có lòng tự trọng, sự tự tin vào khả năng của bản thân. Sự đáp ứng và đạt được nhu cầu này có thể khiến cho một sinh viên học tập tích cực hơn, một người trưởng thành cảm thấy tự do hơn.
Nhu cầu được thể hiện mình (self-actualization needs): Không phải ngẫu nhiên mà nhu cầu này được xếp đặt ở mức độ cao nhất, A.Maslow mô tả nhu cầu này như sau: nhu cầu của một cá nhân mong muốn được là chính mình, được làm những cái mà mình “sinh luan an 15 ra để làm”. Nói một cách đơn giản hơn, đây chính là nhu cầu được sử dụng hết khả năng, tiềm năng của mình để tự khẳng định mình, để làm việc, đạt các thành quả trong xã hội. Lý thuyết về sự lựa chọn của người tiêu dùng Theo N.Gregory Mankiw, lý thuyết về sự lựa chọn của người tiêu dùng cho rằng: “quá trình ra quyết định của cá nhân được định hướng bởi sự tối đa hóa tính hữu ích trong một lượng ngân sách hạn chế”. Theo đó, với giả thuyết con người là duy lý và thông tin trên thị trường là hoàn hảo, hành vi của người tiêu dùng chịu sự ảnh hưởng bởi hai nhân tố cơ bản sau: Thứ nhất, sự giới hạn của ngân sách (thu nhập): mọi người đều chịu sự giới hạn hay ràng buộc về mức thu nhập của họ.
Khi quyết định mua một loại hàng hóa nào đó, người ta thường phải xem xét đến khả năng chi trả của họ, khả năng đánh đổi của họ để có được hàng hóa này thay vì hàng hóa khác hay dùng vào việc khác. Thứ hai, mức hữu dụng cao nhất: người tiêu dùng chỉ lựa chọn những loại hàng hóa, dịch vụ nào mang lại cho họ lợi ích lớn nhất. Lợi ích này là tổng hòa những giá trị mà người tiêu dùng nhận được khi lựa chọn sản phẩm hay dịch vụ đó. 𝑀𝑈𝑋 𝑀𝑈𝑌 = Điều kiện cần và đủ để tối đa hóa lợi ích: { 𝑃𝑋 𝑃𝑌 𝑋𝑃𝑋 + 𝑌𝑃𝑌 = 𝑀0 Hình 1.
Điều kiện cần và đủ để tối đa hóa lợi ích (Nguồn: Principles of Microeconomics: N.Gregory Menkiw, Cengage Learning, Seventh Edition) luan an 16 A, B người tiêu dùng có thể mua được nhưng không nằm trên đường bàng quan xa gốc tọa độ nhất có thể. C là tiếp điểm giữa đường bàng quan và đường ngân sách, tập hợp hàng hóa mang lại lợi ích lớn nhất (tập hợp hàng hóa tối ưu). D được ưa thích nhất nhưng người tiêu dùng không thể mua được. Ví dụ: về trường hợp quyết định thuê một ngôi nhà: Khi một cá nhân nào đó có nhu cầu về nhà ở, anh ta sẽ luôn mong muốn sở hữu cho mình một nơi mà có các điều kiện tiện nghi là tốt nhất như: không gian rộng rãi, thoáng mát, nội thất hợp lý, môi trường sống thoải mái v.
Tuy nhiên, để có được một nơi như vậy thì anh ta cần phải tích lũy nhiều hơn nữa. Mức thu nhập của anh ta bây giờ chỉ phù hợp cho việc sở hữu một ngôi nhà có mức giá thấp. Do đó, trong giới hạn về ngân sách của mình anh ta sẽ lựa chọn ngôi nhà ở mức giá thấp nào có các đặc điểm mang lại cho anh ta lợi ích nhiều nhất. Tâm lý đám đông Gustave Le Bon (1841-1931) là nhà tâm lý học xã hội người Pháp nghiên cứu về đám đông, là cha đẻ của lý thuyết “Tâm lý đám đông”.
Ông viết về nhiều lĩnh vực và có ảnh hưởng rất lớn trong xã hội Pháp đương thời. Những tác phẩm nền tảng nhất của Le Bon là Quy luật tâm lý về sự tiến hoá của các dân tộc (Les Lois psychologiques de l’évolution des peuples, 1894) và Tâm lý học đám đông (La Psychologie des foules, 1895). Tâm lý đám đông chỉ những suy nghĩ hoặc hành vi của con người thường xuyên chịu ảnh hưởng của những người khác. Người ta thường chạy theo những cái mà số đông cho là hay, đúng và sáng suốt, nhưng bản thân lại không suy nghĩ về ý nghĩa của sự việc.
Theo Gustave Le Bon, những đám đông luôn bị vô thức tác động, họ xử sự như người nguyên thuỷ, người dã man, không có khả năng suy nghĩ, suy luận, mà chỉ cảm nhận bằng hình ảnh, bằng sự liên kết các ý tưởng.