Chương 1, Chương 2, tác giả sẽ giới thiệu các lý thuyết có liên quan làm cơ sở cho việc xây dựng các giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu. Chương này trình bày tóm tắt tổng quan về NH TMCP Á Châu và các lý thuyết về Dịch vụ, Chất lượng dịch vụ, Sự hài lòng của KH, Các nghiên cứu trước đây liên quan đến sự hài lòng của KH khi sử dụng thẻ ghi nợ. Từ đó xây dựng các giả thuyết và mô hình nghiên cứu. Khái niệm và đặc điểm dịch vụ 2.
Khái niệm Có nhiều định nghĩa về dịch vụ được đưa ra và theo các nhà nghiên cứu dịch vụ có thể hiểu là: Dịch vụ là một khái niệm phổ biến trong marketing và kinh doanh. Có rất nhiều cách định nghĩa về dịch vụ nhưng theo Valarie A Zeithaml và Mary J Bitner (2000) thì “dịch vụ là những hành vi, quá trình và cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng, làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của KH”. “Dịch vụ là một hoạt động hoặc là một chuỗi hoạt động ít nhiều có tính chất vô hình, nhưng không cần thiết, diễn ra trong các mối tương tác giữa KH và nhân viên dịch vụ và/hoặc các nguồn lực vật chất hoặc hàng hóa và/hoặc các hệ thống cung ứng dịch vụ được cung cấp như là các giải pháp giải quyết các vấn đề của KH” (Gronroos, 1990, dẫn theo Paul Lawrence Miner, 1998). “Dịch vụ là một quá trình gồm các hoạt động hậu đài và các hoạt động phía trước, nơi mà KH và nhà cung cấp dịch vụ tương tác với nhau.
Mục đích của việc tương tác này là nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của KH theo cách KH mong đợi, cũng như tạo ra giá trị cho KH” (Bùi Nguyên Hùng, 2004). Dịch vụ NH nói chung và dịch vụ thẻ nói riêng có vai trò rất quan trọng quyết định sự thịnh vượng của NH trong giai đoạn khó khăn, là nhân tố mang lại lợi nhuận không nhỏ cho các NH trong giai đoạn hiện nay. 8 Dịch vụ thẻ là một dịch vụ NH độc đáo, hiện đại, ra đời và phát triển dựa trên sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật. Với những tính năng ưu việt, cung cấp nhiều tiện ích cho KH, dịch vụ thẻ đã nhanh chóng trở thành dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt phổ biến và được ưu chuộng hàng đầu trên thế giới.
Và nay, thẻ cũng đang dần khẳng định vị trí của mình trong hoạt động thanh toán tại Việt Nam. Đặc điểm Dịch vụ là một “sản phẩm đặc biệt” có nhiều đặc tính khác với các loại hàng hóa khác như tính vô hình, tính không đồng nhất, tính không thể tách rời và tính không thể cất trữ. Chính những đặc tính này làm cho dịch vụ trở nên khó định lượng và không thể nhận dạng bằng mắt thường được. a) Tính vô hình (intangible) Dịch vụ không có hình dáng cụ thể, không thể sờ mó, cân đong, đo đếm một cách cụ thể như đối với các sản phẩm vật chất hữu hình.
Khi mua sản phẩm vật chất, KH có thể yêu cầu kiểm định, thử nghiệm chất lượng trước khi mua nhưng sản phẩm dịch vụ thì không thể tiến hành đánh giá như thế. Do tính chất vô hình, dịch vụ không có “mẫu” và cũng không có “dùng thử” như sản phẩm vật chất. Chỉ thông qua việc sử dụng dịch vụ, KH mới có thể cảm nhận và đánh giá chất lượng dịch vụ một cách đúng đắn nhất. b) Tính không đồng nhất (heterogeneous) Đặc tính này còn được gọi là tính khác biệt của dịch vụ.
Theo đó, việc thực hiện dịch vụ thường khác nhau tùy thuộc vào cách thức phục vụ, nhà cung cấp dịch vụ, người phục vụ, thời gian thực hiện, lĩnh vực phục vụ, đối tượng phục vụ và địa điểm phục vụ. Hơn thế, cùng một loại dịch vụ cũng có nhiều mức độ thực hiện từ “cao cấp”, “phổ thông” đến “thứ cấp”. Vì vậy, việc đánh giá chất lượng dịch vụ hoàn hảo hay yếu kém khó có thể xác định dựa vảo một thước đo chuẩn mà phải xét đến nhiều yếu tố liên quan khác trong trường hợp cụ thể. c) Tính không thể tách rời (inseparable) 9 Tính không thể tách rời của dịch vụ thể hiện ở việc khó phân chia dịch vụ thành hai giai đoạn rạch ròi là giai đoạn sản xuất (production) và giai đoạn sử dụng (consumption).
Sự tạo thành và sử dụng dịch vụ thông thường diễn ra dồng thời cùng lúc với nhau. Nếu hàng hóa thường được sản xuất, lưu kho, phân phối và sau cùng mới giao đến người tiêu dùng thì dịch vụ được tạo ra và sử dụng ngay trong suốt quá trình tạo ra đó. Đối với sản phẩm hàng hóa, KH chỉ sử dụng sản phẩm ở giai đoạn cuối cùng (end-users), còn đối với dịch vụ, KH đồng hành trong suốt hoặc một phần của quá trình tạo ra dịch vụ. Nói cách khác, sự gắn liền của hai quá trình này làm cho dịch vụ trở nên hoàn tất.
d) Tính không thể cất trữ (unstored) Dịch vụ không thể cất trữ, lưu kho rồi đem bán như hàng hóa khác. Chúng ta có thể ưu tiên thực hiện dịch vụ theo thứ tự trước sau nhưng không thể đem cất dịch vụ rồi sau đó đem ra sử dụng vì dịch vụ thực hiện xong là hết, không thể để dành cho việc “tái sử dụng” hay “phục hồi” lại. Chính vì vậy, dịch vụ là sản phẩm được sử dụng khi tạo thành và kết thúc ngay sau đó. Khái niệm chất lượng dịch vụ 2.
Khái niệm Có rất nhiều khái niệm về chất lượng dịch vụ, việc định nghĩa khái niệm này còn tùy thuộc vào đối tượng và lĩnh vực nghiên cứu. Nghiên cứu về chất lượng dịch vụ là cơ sở đề ra các giải pháp khác nhau nhằm cải thiện chất lượng dịch vụ của một DN. Vì thế, định nghĩa về chất lượng dịch vụ không chỉ quan trọng trong việc thiết lập mục tiêu phát triển mà còn áp dụng cho định hướng kinh doanh nhằm phát huy năng lực của DN một cách hiệu quả nhất. Mỗi KH có nhận thức và nhu cầu cá nhân khác nhau nên cảm nhận về chất lượng dịch vụ cũng khác nhau.
(1982), chất lượng dịch vụ phải được đánh giá dựa trên 2 yếu tố: quá trình cung cấp dịch vụ và kết quả của dịch vụ. Theo Advardsson, Thomasson và Ovretveit (1994) cho rằng chất lượng dịch vụ là dịch vụ đáp ứng được sự mong đợi của KH và là nhận thức của họ khi đã sử dụng dịch vụ. 10 Theo Lewis & Mitchell (1990) và Dotchin & Oakland (1994) chất lượng dịch vụ liên quan đến khả năng dịch vụ đó đáp ứng nhu cầu hoặc kỳ vọng của KH. Theo Armand Feigenbaum “chất lượng là quyết định của KH dựa trên kinh nghiệm thực tế đối với sản phẩm hoặc dịch vụ, được đo lường dựa trên những yêu cầu của KH - những yêu cầu này có thể được nêu ra hoặc không nêu ra, được ý thức hoặc đơn giản chỉ là cảm nhận, hoàn toàn chủ quan hoặc mang tính chuyên môn - và luôn đại diện cho mục tiêu động trong một thị trường cạnh tranh”.
Gryna, chất lượng dịch vụ là sự tương ứng với nhu cầu của KH. Theo Feigenbaum AV (1945), chất lượng là quyết định của KH dựa trên trải nghiệm thực tế của họ với sản phẩm hoặc dịch vụ, được đánh giá dựa trên đòi hỏi, yêu cầu của KH - những yêu cầu này có thể được nói ra hoặc không, là nhận thức hoặc đơn giản là cảm nhận, ý kiến chủ quan hoặc đặc tính - và luôn thể hiện mục tiêu hoạt động trong thị trường cạnh tranh. Theo American Society for Quality (ASQ) “Chất lượng thể hiện sự vượt trội của hàng hóa và dịch vụ, đặc biệt đạt đến mức độ mà người ta có thể thỏa mãn mọi nhu cầu và làm hài lòng KH”. Theo Parasuraman (1985, 1988) “Chất lượng dịch vụ được xác định bởi sự khác biệt giữa sự mong đợi của KH về dịch vụ và đánh giá của họ về dịch vụ mà họ nhận được”.
Sau đó, Servqual tiếp tục được hoàn thiện thông qua việc tập trung vào khái niệm về “Sự cảm nhận chất lượng" của người tiêu dùng vì sự cảm nhận chất lượng của KH là việc đánh giá có tính khách quan nhất về chất lượng của dịch vụ. Theo ISO 8402, chất lượng dịch vụ là: " Toàn bộ các đặc tính của một thực thể tạo cho thực thể đó khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra và đã dự định. Chất lượng dịch vụ là sự hài lòng của KH dựa trên sự mong đợi của họ và chất lượng đã được đáp ứng. Nếu chất lượng dịch vụ vượt quá chỉ tiêu mong đợi thì được đánh 11 giá là chất lượng dịch vụ tốt và ngược lại, nếu chất lượng dịch vụ thấp hơn chỉ tiêu mong đợi thì được đánh giá là chất lượng dịch vụ kém.
Tóm lại, từ các định nghĩa trên, chúng ta có thể thấy rằng để xác định chất lượng dịch vụ, cần dựa trên nhiều yếu tố như: khả năng đáp ứng nhu cầu của KH, kỳ vọng của KH đối với dịch vụ đó. Để đáp ứng nhu cầu như vậy từ KH, DN có thể chia sẻ và nhận phản hồi của KH dưới nhiều hình thức. Do đó, DN sẽ có một vị trí vững chắc để cạnh tranh với những DN khác khi KH sử dụng dịch vụ của DN. Chất lượng dịch vụ thẻ là khả năng đáp ứng dịch vụ thẻ đối với sự mong đợi của KH sử dụng thẻ, hay nói theo cách khác là toàn bộ những hoạt động, lợi ích tăng thêm mà NH mang lại cho KH nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng quan hệ đối tác lâu dài với KH thông qua việc tạo nên sự hài lòng cho KH.
Các loại khoảng cách trong chất lượng dịch vụ Dựa trên kết quả phỏng vấn nhóm các nhà quản lý và nhóm KH về chất lượng dịch vụ A.Berry (1985) đã đưa ra mô hình chất lượng dịch vụ chung với 5 khoảng cách (GAP) để đo lường về chất lượng dịch vụ. - Phía nhà cung cấp dịch vụ : Khoảng cách 1 (GAP 1): chênh lệch giữa kỳ vọng KH và nhận thức của DN về kỳ vọng của KH. Khoảng cách 2 (GAP 2): chênh lệch giữa nhận thức kỳ vọng KH và sự hành động của DN thành tiêu chí chất lượng dịch vụ. Khoảng cách 3 (GAP 3): chênh lệch giữa tiêu chí chất lượng dịch vụ mà DN đã hành động với việc cung cấp dịch vụ.
Khoảng cách 4 (GAP 4): chênh lệch giữa cung cấp dịch vụ với việc truyền đạt thông tin đến thị trường, đến KH. - Phía KH: Khoảng cách 5 (GAP 5): Chênh lệch giữa kỳ vọng dịch vụ và cảm nhận dịch vụ của KH.