Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu • Chương 2: Cơ sở lý thuyết và lược khảo các nghiên cứu trước • Chương 3: Phương pháp nghiên cứu • Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận • Chương 5: Kết luận và khuyến nghị 15 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ LƯỢC KHẢO CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2. Cơ sở lý thuyết về cho vay khách hàng cá nhân và khả năng trả nợ của khách hàng cá nhân 2. Khái niệm về cho vay khách hàng cá nhân 2.
Khái niệm về cho vay khách hàng cá nhân Căn cứ Khoản 16, Điều 4, Luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12, cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Đối tượng KHCN phải dựa theo Luật Dân sự số 91/2015/QH13 do Quốc hội ban hành ngày 24/11/2015 quy định về hoạt động cho vay của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng thì chủ thể vay vốn hiện tại bao gồm cá nhân và hộ gia đình có giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh cá thể để thanh toán các chi phí cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân đó, gia đình của cá nhân đó, nhu cầu vốn của hộ kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân mà cá nhân đó là chủ hộ kinh doanh, chủ doanh nghiệp tư nhân. Ở thị trường Việt Nam, cho vay cá nhân trong những năm gần đây đã thật sự bùng nổ và sôi nổi hơn bao giờ hết do tác động của nền công nghiệp 4.0, doanh nghiệp vừa và nhỏ muốn tiếp cận nguồn vốn để phát triển kinh doanh đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng. Ngoài ra, với ảnh hưởng của đại dịch Covid thì việc các cá nhân tiếp cận được nguồn vốn để hỗ trợ khắc phục tình hình kinh doanh sau dịch là một trong những lý do khiến các ngân hàng tự tin vào mảng kinh doanh này.
Với hơn 90 triệu dân, hoạt động cho vay cá nhân là hoạt động lưu thông nguồn vốn trong xã hội, với tỷ lệ dân số trẻ lớn – nhu cầu chi tiêu trước trả sau luôn duy trì ở mức cao, giúp sản phẩm cho vay cá nhân luôn nhận được sự quan tâm. Đặc điểm • Đối tượng cho vay: Là những cá nhân, hộ kinh doanh cá thể có nhu cầu vay vốn để thực hiện các mục đích mua sắm, phục vụ sản xuất kinh doanh. Khách hàng cá nhân là nhóm khách 16 hàng có số lượng lớn nhưng không thường xuyên, chịu nhiều yếu tố tác động đến khả năng trả nợ như thu nhập, tình hình kinh tế xã hội,…. • Thời gian cho vay: Tuỳ thuộc vào mục đích vay vốn và phương thức cho vay mà các khoản vay đối với nhóm KHCN có thời gian là ngắn hạn, trung hạn hoặc dài hạn.
Cụ thể đối với nhóm mục đích vay mua sắm thì thời hạn trả nợ được khách hạn lựa chọn là trung hoặc dài hạn do phần lớn phụ thuộc vào khả năng trả nợ của khách hàng và khả năng cho vay của ngân hàng, đơn cử như các khoản vay mua nhà thường có thời hạn trả nợ từ 5 đến 35 năm. Đối với nhóm mục đích vay sản xuất kinh doanh hộ gia đình thì thời gian trả nợ thường là ngắn hạn phù hợp với mục đích bổ sung nguồn vốn của khách hàng. Hình thức cho vay: Có 2 hình thức cho vay là cho vay có tài sản bảo đảm và cho vay không có tài sản bảo đảm. - Cho vay có tài sản bảo đảm: là việc cho vay theo đó khách hàng vay đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ bằng tài sản cầm cố, thế chấp như bất động sản, động sản,…và tài sản hình thành từ vốn vay của khách hàng vay hoặc bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba.
Vay có tài sản đảm bảo nhằm phòng ngừa các rủi ro giảm bớt tổn thất cho ngân hàng, tăng tính an toàn cho khoản vay và để tạo áp lực cho khách hàng vay có thể thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng hạn. - Cho vay không có tài sản đảm bảo: là việc cho vay không cần tài sản đảm bảo của khách hàng vay còn gọi là vay tín chấp. Loại vay này được cấp dựa trên mức độ tín nhiệm và thu nhập của khách hàng vay, đồng thời mang lại rủi ro cao cho ngân hàng. Để giảm thiểu rủi ro lãi suất cho loại vay tín chấp cao hơn, hạn mức và thời hạn vay thấp hơn loại vay có tài sản đảm bảo.
• Lãi suất Lãi suất đối với KHCN thường được các NHTM áp dụng linh động tuỳ theo từng nhóm đối tượng, mục đích vay vốn và được điều chỉnh dựa trên các yếu tố tác động ngoài thực tế. Các yếu tố tác động đến khả năng trả nợ 2. Khái niệm khả năng trả nợ vay Hiện nay chưa có khái niệm cụ thể về khả năng trả nợ,. thông qua tình hình thực tế thì khả năng của khách hàng chính là khả năng tạo ra tài chính để đảm bảo việc hoàn trả các khoản vay đầy đủ theo định kì.
Trong điều kiện thực tế bình thường: khách hàng có 2 khả năng là trả được nợ hoặc không trả được nợ. Trong tài liệu của Basel Committee on Banking Super vision – (2006) đã định nghĩa khách hàng không có khả năng trả nợ là những khách hàng thuộc một trong những dấu hiệu hoặc tất cả các dấu hiệu sau: - Khách hàng không có khả năng thực hiện nghĩa vụ thanh toán đầy đủ theo kì hạn mà ngân hàng chưa thực hiện hành động thu hồi hoặc bán tài sản để hoàn trả (nếu có). - Khách hàng có những khoản nợ xấu quá hạn trên 90 ngày. Cùng định nghĩa phù hợp về khách hàng không có khả năng trả nợ, Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF – International Monetary Fund) định nghĩa một khoản vay được coi là nợ xấu khi quá hạn thanh toán lãi/ gốc trên 90 ngày hoặc hơn; các khoản lãi chưa thanh toán trên 90 ngày đã được nhập gốc hoặc đã được đồng ý trả chậm.
Khi các khoản thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng có thể nhận thấy các dấu hiệu rõ ràng thể hiện người đi vay không hoàn trả được khoản nợ như mất việc, phá sản,…. Có thể nhận thấy các quan điểm thường xem khách hàng phát sinh nợ xấu đồng nghĩa với khách hàng không có khả năng trả nợ đều được xác định qua 2 yếu tố: quá hạn trên 90 ngày và có lý do nghi ngờ khả năng trả nợ của khách hàng. Tại Việt Nam theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN, Quyết định 18/2007/QĐ- NHNN và thông tư 02/2013/TT-NHNN phân loại nợ xấu bao gồm khoản nợ từ nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn), nợ nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) trở lên cho đến nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn). Trong đó nợ nhóm 2 là nhóm được cho là suy giảm khả năng trả nợ, ngân hàng cần đánh giá lại khả năng trả nợ của khách hàng.
Các yếu tố tác động đến khả năng trả nợ của KHCN Để đánh giá khả năng hoàn trả của khách hàng các NHTM áp dụng nhiều mô hình phân tích, có thể kể đến mô hình 5C như sau: Mô hình 5C 18 Mô hình 5C (C là chữ cái đầu bằng tiếng anh – biểu đạt các yếu tố sử dụng trong mô hình) là một mô hình phổ biến mà các NHTM sử dụng để đánh giá, phân tích như cầu vay vốn của khách hàng. Tất cả các tiêu chí thuộc mô hình này được đánh giá tốt thì khoản vay mới được xem là khả thi. Character (Tư cách của khách hàng) Tư cách khách hàng vô cùng quan trọng trong phân tích nhu cầu vay vốn. Đây là yếu tố để cán bộ tín dụng đánh giá uy tín của người vay, mục đích sử dụng vốn và trách nhiệm đối với khoản vay.
Qua công tác thu thập thông tin như lịch sử trả nợ, tình hình chi tiêu – kinh doanh hiện tại đối với khách hàng cũ hoặc thu thập thông tin từ Trung tâm thông tin tín dụng, các thông tin từ các ngân hàng khác đối với khách hàng mới cán bộ tín dụng có thể kiểm tra được tính trung thực khi khách hàng cung cấp thông tin. Nếu khách hàng thể hiện được sự trung thực và phương án sử dụng vốn phù hợp với chính sách tín dụng của ngân hàng thì tư cách vay vốn được thông qua. Capital (Vốn hay sức mạnh tài chính) Sức mạnh tài chính là một trong những yếu tố giúp ngân hàng đưa ra quyết định đồng ý hay từ chối phương án vay vốn của khách hàng. Yếu tố này được phân tích qua tình hình tài chính ở hiện tại hoặc tra soát trong quá khứ và không liên quan đến các báo cáo về tài chính của khách hàng trong tương lai.
Thông qua phân tích các chỉ số tài chính, ngân hàng có thể biết được khả năng tự chủ tài chính của khách hàng. Conditions (Các điều kiện môi trường kinh doanh) Các điều kiện về môi trường kinh doanh là yếu tố được cán bộ tín dụng xem xét nhằm xác định mức độ ảnh hưởng của tình hình xã hội, kinh tế, chính trị, sức phát triển của ngành nghề….đến nguồn thu trả nợ của khách hàng. Collateral (Bảo đảm tín dụng) Đây là nguồn thu hồi nợ dự phòng, giảm thiểu rủi ro liên quan đến khoản vay khi nguồn thu từ thu nhập của khách hàng không thể hoàn trả đầy đủ các khoản nợ. Trong trường hợp các khách hàng không có thiện chí hoặc không có khả năng hoàn trả thì tài sản bảo đảm chính là công cụ để ngân hàng thu hồi nợ.
Capacity to repay (Năng lực hoàn trả của khách hàng) Khách hàng có thể có nhiều nguồn thu nhằm hoàn trả khoản vay nhưng ngân hàng chú trọng xem xét đến dòng tiền được tạo ra từ phương án vay vốn của khách 19 hàng. Khi xem xét yếu tố này để đánh giá khách hàng thể hiện khả năng hoàn trả khoản vay ngân hàng cần xác định khách hàng có khả năng tạo ra dòng tiền ổn định để thực hiện nghĩa vụ của mình theo như cam kết hay không? Việc ngân hàng có thể kiểm soát được dòng tiền ổn định của khách hàng sẽ giúp đánh giá khả năng hoàn trả của khách hàng. Lược khảo các nghiên cứu có liên quan 2. Một số nghiên cứu nước ngoài Ahmah & Ebrahim (2014), nghiên cứu các yếu tố hành vi trả nợ của khách hàng tại ngân hàng.
Tác giả đã thu thập và sử dụng 150 mẫu khảo sát bằng bảng câu hỏi, những người được phỏng vấn là người đang vay và đang có nợ quá hạn.