đặt vấn đề lỗi với tổ chức vi phạm, tuy nhiên có quan điểm lại cho rằng cần xác định lỗi của tổ chức thì mới có đầy đủ cơ sở để XPVPHC. Trong trường hợp này lỗi của tổ chức được xác định thông qua lỗi của các thành viên trong tổ chức đó khi thực hiện công việc được giao đã vi phạm pháp 12 luật và phải chịu trách nhiệm về mọi hành vi VPHC. Tổ chức vi phạm sẽ bị áp dụng phạt tiền bằng 2 lần mức phạt tiền đối với cá nhân có cùng hành vi và mức độ vi phạm. - Động cơ: Trong lĩnh vực buôn bán hàng giả động cơ VPHC là mong muốn có được lợi ích cho mình khi có hành vi vi phạm.
- Mục đích: Trong lĩnh vực buôn bán hàng giả mục đích là thực hiện đến cùng hành vi vi phạm. Chủ thể của vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả Chủ thể VPHC về buôn bán hàng giả là các tổ chức, cá nhân có năng lực chịu trách nhiệm hành chính thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật về buôn bán hàng giả và bị XLVPHC về hành vi vi phạm đó. Pháp luật chỉ truy cứu trách nhiệm hành chính đối với những cá nhân có năng lực hành vi, không mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi. Là người có khả năng nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật cũng như nhận thức được tính chất nguy hại cho xã hội của hành vi, hậu quả của hành vi và điều khiển được hành vi đó xâm hại đến quan hệ pháp luật về phòng chống hàng giả, làm ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước theo quy định pháp luật hiện hành bao gồm: Điều 2 Nghị định số 185/2013/NĐ-CP [25] quy định đối tượng bị xử phạt hành chính: “Cá nhân, tổ chức Việt Nam hoặc cá nhân, tổ chức nước ngoài thực hiện hành vi vi phạm hành chính quy định tại Nghị định này trên lãnh thổ Việt Nam.
+ Đối với cá nhân: Điểm a khoản 1 Điều 5 Luật XLVPHC năm 2012 quy định: Cá nhân là chủ thể của vi phạm hành chính bao gồm công dân Việt Nam và người nước ngoài (trừ những người được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao và lãnh sự) mà thực hiện hành vi vi phạm hành chính trên lãnh thổ Việt 13 Nam, vùng đặc quyền kinh tế, vùng tiếp giáp lãnh hải. Những người này phải có năng lực trách nhiệm hành chính. Năng lực trách nhiệm pháp lý hành chính thể hiện khả năng nhận thức của con người với hành vi vi phạm, vì thế hai yếu tố để xác định năng lực pháp lý đối với cá nhân là: đạt độ tuổi theo quy định của pháp luật, không mắc bệnh làm mất khả năng nhận thức của hành vi. Điều 5 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 xác định đối tượng bị xử phạt hành chính là cá nhân bao gồm: Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị xử phạt hành chính về vi phạm hành chính do cố ý; người từ đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt hành chính về mọi hành vi vi phạm hành chính.
Nghị định số 185/2013/NĐ-CP quy định: Cá nhân quy định tại khoản 1 Điều này gồm cả hộ kinh doanh phải đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật; hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối và những người bán hàng rong, quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lưu động, làm dịch vụ có thu nhập thấp không phải đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật”. Luật XLVPHC năm 2012 còn quy định: người từ đủ 14 tuổi đến 16 tuổi vi phạm hành chính thì bị phạt cảnh cáo; người chưa thành niên vi phạm hành chính gây ra thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật; trong trường hợp này người chưa thành niên không có tiền nộp phạt thì cha, mẹ hoặc người giám hộ của người đó phải nộp thay, quy định như trên không có nghĩa là xử phạt cả người không vi phạm mà ở đây chúng ta hướng tới trách nhiệm giáo dục ý thức pháp luật cho người chưa thành niên. + Đối với tổ chức: Nghị định số 97/2017/NĐ-CP ngày 18/8/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19 tháng 7 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật XLVPHC quy định tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính khi có đủ các điều kiện sau đây [27]: “Là pháp nhân theo quy 14 định của pháp luật dân sự hoặc các tổ chức khác được thành lập theo quy định của pháp luật; Hành vi vi phạm hành chính do người đại diện, người được giao nhiệm vụ nhân danh tổ chức hoặc người thực hiện hành vi theo sự chỉ đạo, điều hành, phân công, chấp thuận của tổ chức và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính”. Nghị định số 185/2013/NĐ-CP quy định: Tổ chức quy định tại Khoản 1 Điều này gồm cả tổ chức kinh tế là các doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp; hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được thành lập theo Luật Hợp tác xã; các tổ chức kinh tế khác được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật và các đơn vị trực thuộc của các tổ chức kinh tế nói trên; văn phòng đại diện, chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam; văn phòng đại diện của tổ chức xúc tiến thương mại nước ngoài tại Việt Nam 1.
Khách thể của vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả Khách thể của vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả được chia thành các loại sau: Khách thể chung: VPHC về buôn bán hàng giả xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ. Khách thể của VPHC về buôn bán hàng giả rất đa dạng đó là trật tự quản lý nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Khách thể loại: là những quan hệ xã hội có cùng hoặc gần tính chất với nhau trong từng lĩnh vực nhất định của quản lý nhà nước. Các quan hệ này được phát sinh trong cùng một lĩnh vực hoạt động quản lý nhà nước, do vậy chúng có mối liên hệ với nhau, gắn liền với từng phạm vi quản lý nhà nước.
Khách thể trực tiếp: Là hành vi vi phạm đã xâm phạm đến trật tự quản lý trong lĩnh vực phòng chống hàng giả được pháp luật quy định và bảo vệ. Các hành vi vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả Theo quy định tại Điều 3 Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ và Nghị định số 124/2015/NĐ-CP ngày 19/11/2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 185/2013/NĐ-CPngày 15 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thì VPHC về buôn bán hàng giả bao gồm có các hành vi sau đây: Thứ nhất, hành vi buôn bán hàng giả không có giá trị sử dụng, công dụng (còn gọi là hành vi buôn bán hàng giả về nội dung). Theo quy định tại điểm a, b, c và d khoản 8 Điều 3 Nghị định số185/2013/NĐ-CP và Nghị định số 124/2015/NĐ-CP bao gồm hành vi buôn bán các loại hàng giả sau: - Hàng hóa không có giá trị sử dụng, công dụng; có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với nguồn gốc bản chất tự nhiên, tên gọi của hàng hóa; có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với giá trị sử dụng, công dụng đã công bố hoặc đăng ký; - Hàng hóa có ít nhất một trong các chỉ tiêu chất lượng hoặc đặc tính kỹ thuật cơ bản tạo nên giá trị sử dụng, công dụng của hàng hóa chỉ đạt mức từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lượng hoặc quy chuẩn kỹ thuật đã đăng ký, công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa; - Thuốc phòng bệnh, chữa bệnh cho người, vật nuôi không có dược chất; có dược chất nhưng không đúng với hàm lượng đã đăng ký; không đủ loại dược chất đã đăng ký; có dược chất khác với dược chất ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa; - Thuốc bảo vệ thực vật không có hoạt chất; hàm lượng hoạt chất chỉ đạt từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lượng, quy chuẩn kỹ thuật đã đăng ký, công bố áp dụng; không đủ loại hoạt chất đã đăng ký; có hoạt chất 16 khác với hoạt chất ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa;”. Thứ hai, hành vi buôn bán hàng giả mạo nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa (còn gọi là hành vi buôn bán hàng giả về hình thức).
Theo quy định tại điểm đ và e khoản 8 Điều 3 Nghị định số 185/2013/NĐ-CP; bao gồm hành vi buôn bán các loại hàng giả sau: - Hàng hóa có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa giả mạo tên thương nhân, địa chỉ của thương nhân khác; giả mạo tên thương mại hoặc tên thương phẩm hàng hóa; giả mạo mã số đăng ký lưu hành, mã vạch hoặc giả mạo bao bì hàng hóa của thương nhân khác; - Hàng hóa có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa ghi chỉ dẫn giả mạo về nguồn gốc hàng hóa, nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráp hàng hóa;”. Thứ ba, hành vi buôn bán hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ. Hành vi buôn bán hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ và biện pháp xử lý được quy định theo các văn bản về sở hữu trí tuệ và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ; Nghị định số 185/2013/NĐ-CP chỉ quy định viện dẫn. Theo quy định tại Điều 213 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009 [39] thì: Hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ theo quy định của Luật này bao gồm hàng hoá giả mạo nhãn hiệu và giả mạo chỉ dẫn địa lý (sau đây gọi là hàng hoá giả mạo nhãn hiệu).
- Hàng hoá giả mạo nhãn hiệu là hàng hoá, bao bì của hàng hoá có gắn nhãn hiệu, dấu hiệu trùng hoặc khó phân biệt với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ dùng cho chính mặt hàng đó mà không được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc của tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý. - Hàng hoá sao chép lậu là bản sao được sản xuất mà không được phép của chủ thể quyền tác giả hoặc quyền liên quan.