CHƯƠNG 1: PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM TÍN DỤNG LÀ BẤT ĐỘNG SẢN 1. Những vấn đề cơ bản về tài sản bảo đảm tín dụng là bất động sản 1. Tài sản và vai trò của tài sản trong bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự 1. Tài sản Tài sản và quyền đối với tài sản luôn là nội dung chính của của hầu hết các quan hệ dân sự nói chung và các quan hệ thương mại nói riêng.
Với đặc điểm của mình, tài sản có vai trò quan trọng trong các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nói chung và đặc biệt là đối với các biện pháp bảo đảm tín dụng. Điều 163 Bộ luật Dân sự Việt Nam quy định: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản.” Có thể thấy, Bộ luật Dân sự Việt Nam đưa ra định nghĩa về tài sản theo phương pháp liệt kê các tài sản được pháp luật công nhận mà không nêu một khái niệm dứt khoát với nội hàm cụ thể. Điều này càng được thể hiện rõ qua các quy định tại chương XI cả Bộ luật Dân sự: “Các loại tài sản” nhằm diễn giải, phân loại các tài sản được công nhận tại Điều 18. Vật là một bộ phận của thế giới vật chất có thể đáp ứng một nhu cầu về vật chất của con người như thức ăn, nước uống … Nhưng dưới góc độ pháp lý không phải bất cứ bộ phận nào của thế giới vật chất đều được coi là tài sản để pháp luật điều chỉnh.
Tài sản là khách thể của quyền sở hữu được quy định theo Điều 164 Bộ luật Dân sự. “Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật. Chủ sở hữu là cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác có đủ ba quyền là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt.” Như vậy, để được coi là tài sản, vật có thực phải đáp ứng được nhu cầu của con người, đồng thời phải nằm trong sự chiếm hữu của con người, có đặc trưng mang giá trị và có khả năng trở thành đối tượng của giao lưu dân sự. Với sự phát triển của xã hội, khoa học, công nghệ ngày càng phát triển dẫn đến giá trị của các vật cũng có nhiều thay đổi.
Khái niệm vật cũng có nhiều phát triển nhằm phù hợp với thực tế khách quan 3 Sinh viên thực hiện: Bùi Khánh Hòa Chuyên ngành luật kinh doanh K51 4 ĐH KINH TẾ QUỐC DÂN CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP của nền kinh tế, của xã hội. Nhiều loại tài sản mới được công nhận như phần mềm máy tính, dữ liệu điện tử … Ngoài những vật đang tồn tại tại thời điểm xác định mới được coi là tài sản, pháp luật cũng công nhận những vật hình thành trong tương lai cũng có thể là tài sản, chẳng hạn như hoa lợi, lợi tức, nhà ở đang được xây dựng … Ngoài ra, tài sản còn có thể là quyền tài sản theo quy định tại Điều 181 Bộ luật Dân sự "Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ." Tiền là vật ngang giá chung có tính thanh khoản cao nhất dùng để trao đổi lấy hàng hóa và dịch vụ nhằm thỏa mãn bản thân và mang tính dễ thu nhận (nghĩa là mọi người đều sẵn sàng chấp nhận sử dụng) và thường được Nhà nước phát hành bảo đảm giá trị bởi các tài sản khác như vàng, kim loại quý, trái phiếu, ngoại tệ. Cũng như các nước trên thế giới, ngoài đồng tiền của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, pháp luật Việt Nam cũng thừa nhận các ngoại tệ căn cứ theo điểm a khoản 2 Điều 6 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam bao gồm: “Đồng tiền của quốc gia khác hoặc đồng tiền chung châu Âu và đồng tiền chung khác được sử dụng trong thanh toán quốc tế và khu vực” Theo điểm 8, Điều 6 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010, giấy tờ có giá là “bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác”. Căn cứ vào các quy định của pháp luật hiện hành thì giấy tờ có giá bao gồm: - Hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc, công cụ chuyển nhượng khác được quy định tại Điều 1 Luật Các công cụ chuyển nhượng năm 2005; - Trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu được quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 4 Pháp lệnh ngoại hối năm 2005; - Tín phiếu, hối phiếu, trái phiếu, công trái và các công cụ khác làm phát sinh nghĩa vụ trả nợ được quy định tại điểm 16, Điều 3 Luật Quản lý nợ công 2009; - Các loại chứng khoán (Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ; Quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán; Hợp đồng góp vốn đầu tư; Các loại chứng 1 Nguồn: www.com 4 Sinh viên thực hiện: Bùi Khánh Hòa Chuyên ngành luật kinh doanh K51 5 ĐH KINH TẾ QUỐC DÂN CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP khoán khác do Bộ Tài chính quy định) được quy định tại điểm 3 Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán năm 2010; - Trái phiếu doanh nghiệp được quy định tại Khoản 1 Điều 2 Nghị định số 90/2011/NĐ-CP của Chính phủ về phát hành trái phiếu doanh nghiệp.
Vai trò của tài sản trong bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự Theo từ điển Tiếng Viê ̣t: “Bảo đảm là cam đoan chịu trách nhiệm về một việc gì đấy hoặc là làm cho có được điều gì hoặc chắc chắn đạt tiêu chuẩn cần thiết theo quy định.” Trong các hoạt đô ̣ng dân sự bao gồm hoạt đô ̣ng kinh doanh thương mại nói chung và đă ̣c biê ̣t là các hoạt đô ̣ng tín dụng nói riêng luôn tồn tại các rủi ro. Các rủi ro này do hoàn cảnh khách quan hoă ̣c chủ quan khiến mô ̣t bên không hoàn thành nghĩa vụ của mình theo hợp đồng gây thiê ̣t hại, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của bên kia. Chính vì vâ ̣y các bên thỏa thuâ ̣n các biê ̣n pháp bảo đảm thực hiê ̣n nghĩa vụ dân sự. Điều 318 Bô ̣ luâ ̣t Dân sự Viê ̣t Nam quy định 7 biê ̣n pháp bảo đảm thực hiê ̣n nghĩa vụ dân sự bao gồm: 1.
Cầm cố tài sản; 2. Thế chấp tài sản; 3. Về bản chất, các biê ̣n pháp bảo đảm thực hiê ̣n nghĩa vụ dân sự không phải là điều kiê ̣n bắt buô ̣c và không ảnh hưởng đến viê ̣c thực hiê ̣n các quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng chính. Các bên có nghĩa vụ vẫn phải nghiêm túc thực hiê ̣n nghĩa vụ và chịu các chế tài nếu vi phạm.
Các biê ̣n pháp bảo đảm có ý nghĩa đảm bảo rằng bên có nghĩa vụ sẽ phải thực hiê ̣n nghĩa vụ của mình nếu không có thể bị thiê ̣t hại, thường là về mă ̣t tài sản và bên có quyền sẽ được thực hiê ̣n quyền của mình hoă ̣c được bồi thường nếu bị vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Các biê ̣n pháp bảo 5 Sinh viên thực hiện: Bùi Khánh Hòa Chuyên ngành luật kinh doanh K51 6 ĐH KINH TẾ QUỐC DÂN CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP đảm giảm thiểu rủi ro cho bên có quyền đồng thời tạo cơ sở để áp dụng các biê ̣n pháp xử lý về mă ̣t tài sản khi bên có nghĩa vụ không thực hiê ̣n nghĩa vụ của mình. Trong 7 biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự mà pháp luật quy định thì trừ tín chấp, 6 biện pháp còn lại đều là biện pháp bảo đảm bằng tài sản (bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba). Trong đó, đặt cọc, ký cược, ký quỹ dùng tiền, đá quý, kim khí quý và giấy tờ có giá hoặc vật có giá trị làm tài sản bảo đảm.
Các biện pháp bảo đảm khác bao gồm: cầm cố, thế chấp và bảo lãnh (bảo lãnh bằng tài sản) được phép sử dụng tất cả các loại tài sản mà pháp luật thừa nhận để bảo đảm theo quy định. Có thể thấy trong bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, tài sản đóng vai trò lớn, quyết định đến các biện pháp bảo đảm. Sở dĩ tài sản có vai trò như vậy do các đặc tính của tài sản. Tài sản có giá trị.
Việc tài sản có giá trị là đặc tính cơ bản của tài sản. Giá trị của tài sản bảo đảm trước hết là thiệt hại về kinh tế cho bên không thực hiện nghĩa vụ, từ đó khuyến khích bên có nghĩa vụ thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ của mình. Đồng thời giá trị của tài sản cũng bù đắp toàn bộ hoặc một phần (theo thỏa thuận) thiệt hại xảy ra cho bên có quyền khi bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình. Tài sản có tính chuyển giao được, kéo theo đó tính thanh khoản của tài sản.
Tính thanh khoản là khả năng trao đổi, mua bán nhanh chóng nhằm thu về lợi ích mong muốn của tài sản. Bảo đảm bằng tài sản là việc chủ sở hữu tài sản dùng tài sản của mình bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ của chính mình hoặc bên thứ ba. Như vậy tài sản bảo đảm thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm, bên nhận bảo đảm không sở hữu hay chiếm hữu tài sản bảo đảm đó. Trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ của mình thì tài sản bảo đảm được xử lý.
Việc xử lý có thể là chuyển giao quyền sở hữu cho bên nhận bảo đảm hoặc bên thứ ba. Nếu bảo đảm bằng vật hay quyền không có tính chuyển giao như quyền nhân thân thì việc xử lý không thể xảy ra. Do vậy tài sản với đặc tính chuyển giao được của mình là đối tượng thích hợp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Đồng thời tính thanh khoản xuất phát từ giá trị của tài sản, sự cho phép trao đổi của pháp luật đối với tài sản và nhu cầu đối với tài sản.
Tính thanh khoản của tài sản đảm bảo quyền lợi, lợi ích cho bên nhận bảo đảm. Bên nhận bảo đảm có thể chuyển giao tài sản bảo đảm để thu về lợi ích mong muốn. Về cơ bản, tài sản có tính thanh khoản, chỉ khác nhau về mức độ.