Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Xử lý tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật Việt Nam" do sinh viên Lê Thị Yến thực hiện năm 2023 tại Trường Đại học Luật Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS. Hoàng Thị Loan, thuộc chuyên ngành Luật Dân sự.
Trong quan hệ nghĩa vụ dân sự, việc xác lập các biện pháp bảo đảm nhằm phòng ngừa rủi ro khi một bên không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết. Khi vi phạm xảy ra, cơ chế xử lý tài sản bảo đảm (TSBĐ) đóng vai trò là công cụ pháp lý cốt lõi nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên nhận bảo đảm. Trong bối cảnh kinh tế thị trường phát triển và hội nhập quốc tế sâu rộng, nhu cầu xử lý TSBĐ ngày càng gia tăng với tính chất tranh chấp ngày càng phức tạp. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật thực định về xử lý TSBĐ vẫn bộc lộ nhiều điểm bất cập, chưa dự liệu toàn diện các quan hệ kinh tế mới phát sinh, gây khó khăn cho các chủ thể áp dụng pháp luật và tổ chức tín dụng. Do đó, việc nghiên cứu toàn diện cơ chế pháp lý này là yêu cầu cấp thiết.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể:
- Làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản về TSBĐ và xử lý TSBĐ trong luật dân sự.
- Khảo cứu có chọn lọc quy định pháp luật của một số quốc gia (Anh, Pháp, Nhật Bản) để rút ra giá trị so sánh.
- Phân tích thực trạng quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về nguyên tắc, điều kiện, phương thức, trình tự, thủ tục xử lý TSBĐ, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể, cũng như cơ chế áp dụng đối với các dạng tài sản đặc thù.
- Đánh giá ưu điểm, hạn chế của quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng tại các tổ chức tín dụng và cơ quan tài phán, từ đó đề xuất hệ thống kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các quy định pháp luật về xử lý TSBĐ theo pháp luật Việt Nam, thực tiễn thi hành và các quan điểm khoa học pháp lý liên quan.
- Phạm vi không gian: Hệ thống pháp luật Việt Nam, có đối chiếu với pháp luật Anh, Pháp, Nhật Bản.
- Phạm vi thời gian: Tập trung vào các quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng giai đoạn 2019–2023.
Cơ sở pháp lý và phương pháp nghiên cứu
Về mặt lý luận, đề tài dựa trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp với các học thuyết pháp lý dân sự về vật quyền, trái quyền và bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Tác giả tiếp cận TSBĐ dưới hai góc độ: đối tượng của hợp đồng bảo đảm và phương tiện bảo đảm quyền lợi cho bên nhận bảo đảm.
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật làm cơ sở phân tích bao gồm:
- Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS 2015), kế thừa và so sánh với BLDS năm 2005.
- Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/03/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ (thay thế Nghị định số 163/2006/NĐ-CP).
- Nghị quyết số 42/2017/QH14 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng.
- Thông tư liên tịch số 16/2014/TTLT-BTP-BTNMT-NHNN hướng dẫn một số vấn đề về xử lý tài sản bảo đảm.
- Các văn bản pháp luật chuyên ngành: Luật Thi hành án dân sự, Luật Phá sản 2014, Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
- Nguồn luật quốc tế và so sánh: Luật mẫu về giao dịch bảo đảm của Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Châu Âu năm 2004 (Luật mẫu EBRD 2004), Bộ luật Dân sự Pháp, Bộ luật Dân sự Nhật Bản.
Về phương pháp nghiên cứu cụ thể, khóa luận sử dụng:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp quy phạm để làm rõ cấu trúc điều luật và nội hàm pháp lý.
- Phương pháp luật học so sánh nhằm đối chiếu cơ chế xử lý TSBĐ giữa hệ thống Common Law (Anh) và Civil Law (Pháp, Nhật Bản, Việt Nam).
- Phương pháp thống kê, chứng minh và lịch sử để đánh giá tiến trình phát triển của pháp luật giao dịch bảo đảm từ Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989 đến nay.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Một số vấn đề lý luận về xử lý tài sản bảo đảm
Chương 1 hệ thống hóa các khái niệm nền tảng. Tác giả đưa ra định nghĩa: TSBĐ là tài sản mà pháp luật không cấm giao dịch, được bên bảo đảm dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của mình hoặc của người khác đối với bên nhận bảo đảm thông qua các biện pháp bảo đảm. TSBĐ mang ba đặc điểm chính: là tiền đề xác lập hợp đồng nhưng giá trị tài sản mới là đích đến hướng tới của bên nhận bảo đảm; phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm (trừ trường hợp tài sản của người thứ ba theo thỏa thuận); và giá trị TSBĐ thường lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm để bù đắp chi phí phát sinh.
Về khái niệm xử lý TSBĐ, tác giả xác định đây là hoạt động của cá nhân, tổ chức, cơ quan thực hiện quyền năng tác động lên TSBĐ thông qua các phương thức do pháp luật quy định nhằm thỏa mãn quyền và lợi ích hợp pháp của bên nhận bảo đảm khi có hành vi vi phạm nghĩa vụ. Bốn đặc điểm pháp lý của hoạt động này gồm: phải tuân thủ các nguyên tắc luật định; mục đích tối thượng là bảo vệ quyền lợi bên nhận bảo đảm; hậu quả pháp lý làm chấm dứt quyền sở hữu của bên bảo đảm đối với tài sản; và là quyền năng hợp pháp của bên nhận bảo đảm.
Trong phần nghiên cứu so sánh pháp luật quốc tế, tác giả phân tích cơ chế xử lý TSBĐ của ba quốc gia đại diện:
| Tiêu chí |
Anh Quốc (Common Law / EBRD 2004) |
Pháp (Civil Law) |
Nhật Bản (Civil Law) |
Việt Nam (Civil Law / BLDS 2015) |
| Phạm vi tài sản |
Rất rộng, chỉ cần có khả năng quy đổi thành tiền tệ, bao gồm cả quyền hợp đồng. |
Quy định hẹp theo từng biện pháp truyền thống (cầm cố, thế chấp). |
Quy định cụ thể theo từng loại: động sản, bất động sản, khoản thu. |
Động sản, bất động sản, quyền tài sản, tài sản hình thành trong tương lai. |
| Quyền tự thu giữ |
Cho phép tự thu giữ; có thể chỉ định Thừa phát lại cưỡng chế ngoài Tòa án. |
Cấm tự ý thu giữ; bắt buộc phải yêu cầu Tòa án hoặc thông qua cơ quan thi hành án. |
Không cho phép tự thu giữ; bắt buộc yêu cầu Tòa án chiếm giữ hoặc thi hành án. |
Cho phép tự thu giữ theo thỏa thuận nhưng phụ thuộc thiện chí; thiếu quyền cưỡng chế thực tế. |
| Phương thức xử lý |
Tự bán, bán đấu giá, chỉ định bên thứ ba quản lý mà không cần Tòa án can thiệp. |
Giữ lại tài sản (qua Tòa án), nhận chuyển quyền sở hữu (thỏa thuận), bán qua Tòa án. |
Bán đấu giá, thu hồi doanh thu từ bất động sản, chuyển giao tài sản theo thỏa thuận. |
Bên nhận bảo đảm tự bán, nhận chính tài sản để khấu trừ, bán đấu giá, phương thức khác. |
| Thứ tự ưu tiên |
Theo thời điểm xác lập và đăng ký giao dịch bảo đảm. |
Xác định theo thứ tự đăng ký công khai tại cơ quan có thẩm quyền. |
Xác định theo thời điểm đăng ký; cho phép thay đổi theo thỏa thuận. |
Xác lập theo thời điểm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba (Điều 297, 308). |
Chương 2. Thực trạng quy định của pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm
Chương 2 là trọng tâm của khóa luận, phân tích chi tiết quy định pháp luật thực định Việt Nam:
1. Nguyên tắc và căn cứ xử lý:
Quá trình xử lý TSBĐ phải tuân thủ ba nguyên tắc: chỉ xử lý khi xuất hiện căn cứ luật định hoặc thỏa thuận; ưu tiên xử lý theo thỏa thuận của các bên; và bảo đảm tính khách quan, công khai, minh bạch, chỉ xử lý phần tài sản tương ứng với phạm vi nghĩa vụ. Ba căn cứ xử lý quy định tại Điều 299 BLDS 2015 gồm: đến hạn mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ; bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ trước thời hạn do vi phạm hợp đồng; và các trường hợp khác do các bên thỏa thuận hoặc luật định (như nguy cơ hư hỏng, phá sản theo Luật Phá sản 2014, thi hành án dân sự).
2. Phương thức và trình tự, thủ tục xử lý:
Điều 303 BLDS 2015 quy định các phương thức: bên nhận bảo đảm tự bán tài sản; bên nhận bảo đảm nhận chính TSBĐ để khấu trừ nghĩa vụ; bán đấu giá; và phương thức khác do thỏa thuận (như cho thuê, khai thác công dụng).
Về trình tự, thủ tục theo Điều 300 BLDS 2015 và Nghị định số 21/2021/NĐ-CP:
- Thông báo xử lý: Bên nhận bảo đảm phải gửi thông báo bằng văn bản. Thời hạn hợp lý luật định (khi không có thỏa thuận) là ít nhất 10 ngày đối với động sản và 15 ngày đối với bất động sản trước thời điểm xử lý (khoản 4 Điều 51 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP). Trường hợp tài sản có nguy cơ hư hỏng làm giảm sút hoặc mất toàn bộ giá trị thì được quyền xử lý ngay đồng thời gửi thông báo.
- Thu giữ tài sản: Theo Điều 301 BLDS 2015, bên giữ tài sản có nghĩa vụ giao tài sản. Nếu không giao, bên nhận bảo đảm có quyền kiểm tra thực tế, tự thu giữ hoặc khởi kiện ra Tòa án.
- Định giá tài sản: Theo Điều 306 BLDS 2015 và Thông tư liên tịch số 16/2014/TTLT-BTP-BTNMT-NHNN, các bên thỏa thuận giá hoặc qua tổ chức thẩm định giá. Nếu bên bảo đảm không chỉ định tổ chức thẩm định giá trong vòng 15 ngày, bên nhận bảo đảm có quyền chỉ định. Khi không bán được tài sản, bên nhận bảo đảm được quyền hạ giá bán tối đa 3 lần liên tục, mỗi lần không quá 10% giá đã định và cách nhau ít nhất 30 ngày (đối với bất động sản) hoặc 15 ngày (đối với động sản). Sau 3 lần hạ giá vẫn không bán được, bên nhận bảo đảm được nhận chính tài sản theo mức giá của lần hạ cuối cùng.
- Thanh toán số tiền thu được: Thực hiện theo Điều 307 và 308 BLDS 2015. Thứ tự thanh toán ưu tiên chi phí bảo quản, thu giữ, tiếp đến nghĩa vụ có biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba (căn cứ thời điểm đăng ký biện pháp bảo đảm hoặc nắm giữ tài sản theo Điều 297 BLDS 2015 và Điều 23 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP). Khoản tiền chênh lệch thừa phải trả lại cho bên bảo đảm; phần thiếu trở thành nghĩa vụ không có bảo đảm.
3. Cơ chế xử lý đối với các trường hợp đặc biệt:
Khóa luận làm rõ quy định áp dụng cho từng dạng tài sản đặc thù theo Nghị định số 21/2021/NĐ-CP:
- Bên bảo đảm là cá nhân chết hoặc bị tuyên bố chết (Điều 50): Việc xử lý vẫn tiến hành theo thỏa thuận đã xác lập; bên nhận bảo đảm thông báo cho người hưởng di sản hoặc người quản lý di sản; nếu chưa xác định được mà nghĩa vụ đã đến hạn thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Vật đồng bộ và tài sản có tài sản gắn liền (Điều 54): Vật đồng bộ bắt buộc phải xử lý đồng thời toàn bộ các bộ phận. Tài sản gắn liền nếu chia tách được thì xử lý từng phần, không chia tách được thì xử lý đồng thời.
- Quyền đòi nợ, khoản phải thu: Bên nhận bảo đảm trở thành chủ nợ mới, có quyền yêu cầu bên thứ ba có nghĩa vụ thanh toán chuyển giao tiền hoặc tài sản.
- Tài sản hình thành trong tương lai (Điều 55): Có thể chuyển nhượng hợp đồng mua bán, bán tài sản hoặc nhận chính tài sản khi tài sản đã hình thành.
- Tài sản thế chấp được đầu tư (Điều 56): Nếu tài sản mới phát sinh có thể tách rời mà không làm giảm giá trị tài sản thế chấp ban đầu thì việc xử lý không bao gồm tài sản mới; nếu không thể tách rời thì xử lý chung và thanh toán lại giá trị phần đầu tư tăng thêm cho bên đầu tư.
4. Đánh giá ưu điểm và hạn chế:
- Ưu điểm: Nghị định số 21/2021/NĐ-CP mở rộng phạm vi điều chỉnh cho mọi biện pháp bảo đảm thay vì chỉ bó hẹp ở "cầm cố, thế chấp" như Nghị định số 163/2006/NĐ-CP. Điều 49 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP quy định bên nhận bảo đảm được quyền xử lý theo thỏa thuận mà không cần văn bản ủy quyền hay đồng ý của bên bảo đảm. Luật hóa cụ thể thời hạn thông báo trước (10 ngày, 15 ngày) khắc phục tính mập mờ của cụm từ "thời hạn hợp lý" tại Điều 300 BLDS 2015.
- Hạn chế: Tiêu chí "nguy cơ hư hỏng dẫn đến giảm sút giá trị" tại Điều 300 BLDS 2015 chưa được lượng hóa mức độ suy giảm. Quyền tự thu giữ tài sản trên thực tế bị vô hiệu hóa nếu bên bảo đảm chống đối, do cơ chế phối hợp của cơ quan công an và chính quyền địa phương theo Nghị quyết số 42/2017/QH14 chỉ giới hạn ở phạm vi an ninh trật tự và chỉ áp dụng cho tổ chức tín dụng, công ty mua bán nợ. Thiếu quy định chi tiết về trách nhiệm và quyền hạn của người thứ ba quản lý/giữ tài sản. Xung đột giữa quyền của bên nhận thế chấp và quyền của bên thuê, mượn tài sản thế chấp theo Điều 34 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP khi hợp đồng thuê, mượn ký kết trước hoặc sau chưa được xử lý triệt để.
Chương 3. Thực tiễn thực hiện và một số kiến nghị hoàn thiện, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm
Chương 3 khảo sát thực tế áp dụng quy định tại các tổ chức tín dụng và cơ quan tài phán. Vướng mắc lớn nhất của các ngân hàng thương mại nằm ở khâu thu giữ TSBĐ (đặc biệt là động sản và nhà ở). Bên bảo đảm thường trốn tránh, không bàn giao tài sản, khiếu nại kéo dài, buộc ngân hàng phải khởi kiện qua Tòa án với thời gian tố tụng kéo dài từ 1 đến 3 năm, làm gia tăng chi phí và phát sinh nguy cơ tài sản suy giảm phẩm chất. Tại giai đoạn thi hành án, việc định giá lại tài sản thường xuyên gặp khiếu kiện về giá trị thẩm định thấp hơn thực tế.
Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra các nhóm giải pháp hoàn thiện:
- Sửa đổi, bổ sung quy phạm luật thực định: Lượng hóa rõ mức độ "giảm sút giá trị" của TSBĐ tại Điều 300 BLDS 2015 để ngăn ngừa việc bên nhận bảo đảm lạm quyền xử lý khẩn cấp.
- Mở rộng và luật hóa cơ chế thu giữ tài sản: Hoàn thiện cơ chế cưỡng chế bàn giao TSBĐ hợp pháp, quy định rõ thẩm quyền và trách nhiệm bắt buộc của chính quyền địa phương, cơ quan công an trong việc hỗ trợ bảo vệ hiện trường và bàn giao tài sản, mở rộng cơ chế của Nghị quyết số 42/2017/QH14 thành quy định chung áp dụng thống nhất cho các chủ thể dân sự.
- Quy định chi tiết địa vị pháp lý của người thứ ba nắm giữ TSBĐ: Bổ sung quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm bồi thường cụ thể của bên thứ ba lưu giữ tài sản nếu cố tình cản trở việc xử lý.
- Nâng cao hiệu quả áp dụng: Chuẩn hóa điều khoản xử lý TSBĐ trong hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm; đẩy mạnh ứng dụng hệ thống đăng ký biện pháp bảo đảm trực tuyến để bảo đảm thứ tự ưu tiên thanh toán minh bạch; nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức thẩm định giá độc lập và tổ chức bán đấu giá tài sản.
Kết quả và đóng góp của khóa luận
Khóa luận đạt được các kết quả cụ thể gắn liền với nội dung phân tích thực chứng:
- Khái quát hóa và xây dựng hệ thống định nghĩa, đặc điểm pháp lý hoàn chỉnh về TSBĐ và xử lý TSBĐ trên cơ sở dung hòa góc độ vật quyền và trái quyền.
- Phân tích và so sánh có hệ thống mô hình xử lý TSBĐ của Anh, Pháp, Nhật Bản; chỉ ra sự khác biệt giữa quyền tự lực xử lý tài sản của hệ thống Common Law và sự can thiệp bắt buộc của Tòa án trong hệ thống Civil Law, qua đó định vị rõ vị trí của pháp luật Việt Nam.
- Rà soát toàn diện các điểm mới của Nghị định số 21/2021/NĐ-CP (như Điều 49 về xử lý không cần ủy quyền, Điều 50 về bên bảo đảm chết, Điều 54 về vật đồng bộ, Điều 55 về tài sản tương lai, Điều 56 về tài sản đầu tư) so với Nghị định số 163/2006/NĐ-CP và BLDS 2005.
- Đóng góp vào việc phát hiện các khoảng trống pháp lý: chỉ ra sự thiếu định lượng của tiêu chí hư hỏng tài sản tại Điều 300 BLDS 2015; sự bế tắc của quyền thu giữ TSBĐ trên thực tế ngoài phạm vi áp dụng hạn hẹp của Nghị quyết số 42/2017/QH14.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận phản ánh một số điểm hạn chế dựa trên phạm vi nghiên cứu:
- Đề tài được hoàn thành năm 2023, do đó các đánh giá về thực tiễn xử lý nợ xấu tại tổ chức tín dụng chủ yếu dựa trên hiệu lực tạm thời của Nghị quyết số 42/2017/QH14 (vốn hết hiệu lực sau đó và được sửa đổi, bổ sung tại các đạo luật chuyên ngành tiếp theo).
- Số liệu thực tiễn và án lệ giải quyết tranh chấp chưa được thống kê trên quy mô toàn quốc mà chủ yếu tập trung qua khảo sát các công trình thứ cấp và báo cáo ngành ngân hàng.
- Hướng mở tiếp theo: Nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về xử lý các loại tài sản bảo đảm phi truyền thống, tài sản số, quyền tài sản phát sinh từ các dự án công nghệ mới và việc hoàn thiện cơ chế tố tụng rút gọn trong xử lý tranh chấp TSBĐ tại Tòa án.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Dân sự, Luật Kinh tế, Luật Ngân hàng đang học tập hoặc làm khóa luận, luận văn về giao dịch bảo đảm.
- Cán bộ pháp chế, cán bộ quản lý rủi ro và xử lý nợ tại các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng trong việc áp dụng quy trình thông báo, hạ giá định giá theo Thông tư liên tịch số 16/2014/TTLT-BTP-BTNMT-NHNN và Nghị định số 21/2021/NĐ-CP.
- Thẩm phán, Chấp hành viên, Thừa phát lại tham khảo các luận cứ giải quyết xung đột quyền ưu tiên thanh toán theo Điều 308 BLDS 2015 và xử lý tài sản thế chấp có tài sản đầu tư phát sinh theo Điều 56 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP.
Câu hỏi thường gặp
1. Theo pháp luật Việt Nam, thời hạn thông báo xử lý tài sản bảo đảm được xác định như thế nào khi các bên không có thỏa thuận?
Căn cứ khoản 4 Điều 51 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP, nếu các bên không có thỏa thuận trong hợp đồng, bên nhận bảo đảm phải thông báo bằng văn bản trước ít nhất 10 ngày đối với động sản và trước ít nhất 15 ngày đối với bất động sản tính đến thời điểm tiến hành xử lý TSBĐ (trừ tài sản chứng khoán niêm yết, hàng hóa trên sàn giao dịch hoặc tài sản có nguy cơ hư hỏng mất giá trị).
2. Quy trình hạ giá bán tài sản bảo đảm trong trường hợp không bán được quy định như thế nào?
Theo khoản 3 Điều 10 Thông tư liên tịch số 16/2014/TTLT-BTP-BTNMT-NHNN, bên nhận bảo đảm được quyền hạ giá bán tối đa 3 lần liên tục; mỗi lần hạ không quá 10% giá đã định và phải cách nhau ít nhất 30 ngày đối với bất động sản, 15 ngày đối với động sản. Nếu sau 3 lần hạ giá liên tục vẫn không bán được, bên nhận bảo đảm được quyền nhận chính TSBĐ để thay thế nghĩa vụ theo mức giá của lần hạ cuối cùng.
3. Khi bên bảo đảm là cá nhân chết hoặc bị tuyên bố đã chết, việc xử lý tài sản bảo đảm được giải quyết ra sao?
Theo Điều 50 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP, sự kiện bên bảo đảm chết không làm thay đổi việc xử lý TSBĐ đã được thỏa thuận. Bên nhận bảo đảm tiếp tục thực hiện xử lý theo hợp đồng và có nghĩa vụ gửi thông báo cho người hưởng di sản hoặc người quản lý di sản. Trường hợp chưa xác định được người thừa kế mà nghĩa vụ đã đến hạn, bên nhận bảo đảm có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Quy định pháp luật phân biệt việc xử lý tài sản là vật đồng bộ và tài sản có tài sản gắn liền như thế nào?
Căn cứ khoản 1 Điều 54 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP, đối với vật đồng bộ (vật tạo thành chỉnh thể không thể thiếu bộ phận cấu thành), bên nhận bảo đảm bắt buộc phải xử lý đồng thời toàn bộ các bộ phận. Đối với tài sản có tài sản gắn liền, nếu các tài sản gắn liền có thể chia tách được thì được quyền tách ra để xử lý từng tài sản; nếu không thể chia tách được thì mới xử lý đồng thời.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Thị Yến là công trình nghiên cứu hệ thống và nghiêm túc về chế định xử lý tài sản bảo đảm trong pháp luật dân sự Việt Nam. Văn bản đã đối chiếu sâu sắc giữa quy định của BLDS 2015, Nghị định số 21/2021/NĐ-CP với kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn thi hành. Các phân tích về bất cập trong quy trình thu giữ tài sản, tiêu chí xác định rủi ro hư hỏng tài sản và các giải pháp kiến nghị đưa ra có giá trị khoa học thực tiễn rõ nét, đóng góp thiết thực cho công tác hoàn thiện khung pháp lý về giao dịch bảo đảm tại Việt Nam.