mở đầu hoặc kết thúc một quá trình luân chuyển hàng hóa, hoặc quan hệ kinh tế. Để việc thanh toán nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi phí, ngân hàng đưa ra cho khách hàng nhiều hình thức thanh toán như thanh toán bằng séc, ủy nhiệm chi, nhờ thu, thẻ.Các ngân hàng còn thực hiện thanh toán bù trừ với nhau thông qua ngân hàng Trung ương hoặc thông qua các trung tâm thanh toán. Công nghệ thanh toán qua ngân hàng càng đạt hiệu quả cao khi quy mô sử dụng công nghệ đó càng được mở rộng. Tạo phương tiện thanh toán Tiền có một chức năng quan trọng là làm phương tiện thanh toán, hệ thống ngân hàng tham gia tạo nên phương tiện thanh toán là tiền ghi sổ.
Ban đầu các ngân hàng đã tạo ra tiền giấy thay cho tiền kim loại dựa trên số lượng tiền kim loại đang nắm giữ. Với nhu cầu có đồng tiên quốc giá duy nhất đã dẫn đến việc Nhà nước tập trung quyền lực phát hành (in) tiền giấy vào một tổ chức, Bộ tài chính hoặc là Ngân hàng trung ương, chấm dứt việc các NHTM tạo ra giấy bạc của riêng mình. Trong điều kiện phát triển thanh toán qua ngân hàng, các khách hàng nhận thấy nếu họ có dố dư trên tài khoản tiền gửi thánh toán, họ sẽ chi trả để có được hàng hóa và các dịch vụ theo yêu cầu. Tiền trên tài khoản tiền gửi thanh toán tại ngân hàng là phương tiện thanh toán song hành cùng tiền 10 luan an giấy.
Theo quan điểm hiện đại, đại lượng tiền tệ bao gồm nhiều bộ phận. Thứ nhất là tiền giấy trong lưu thông, thứ hai là số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tại ngân hàng, thứ ba là tiền gửi trên tài khoản tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi có kỳ hạn,. Khái niệm, đặc điểm nợ xấu và các yếu tố liên quan đến nợ xấu của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm nợ xấu Đối với Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), nợ xấu được giải thích là: “Một khoản cho vay được coi là không sinh lời (nợ xấu) khi tiền thanh toán lãi và/hoặc tiền gốc đã quá hạn từ 90 ngày trở lên, hoặc các khoản thanh toán lãi đến 90 ngày hoặc hơn đã được tái cơ cấu hay gia hạn nợ, hoặc các khoản thanh toán dưới 90 ngày nhưng có các nguyên nhân nghi ngờ việc trả nợ sẽ được thực hiện đầy đủ”.
Với định nghĩa này, nợ xấu được xác định trên hai khía cạnh thời gian quá hạn và khả năng trả nợ của khách hàng. Còn xét trong phạm vi Việt Nam, nợ xấu được định nghĩa theo pháp luật như sau: Nợ xấu trong hoạt động tín dụng của NHTM chính là các khoản tiền mà mà ngân hàng cho khách hàng vay nhưng khi đến hạn thu hồi nợ lại không thể đòi được do yếu tố chủ quan từ chính phía khách hàng như doanh nghiệp, tổ chức vay tín dụng làm ăn thua lỗ, phá sản dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh toán khoản nợ đã vay của ngân hàng khi đến kỳ hạn. Nợ xấu là những khoản nợ được ngân hàng liệt vào nhóm 3 (nhóm dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nghi ngờ) và nhóm 5 (khả năng mất vốn cao) [24, Đ. Đặc điểm cơ bản của nợ xấu Thứ nhất, Người mắc nợ trốn hoặc mất tích, không còn tài sản để thanh toán nợ.
11 luan an Thứ hai, những khoản nợ mà chủ nợ không thể liên lạc được với người mắc nợ hoặc không thể tìm được người mắc nợ. Thứ ba, những khoản nợ mà khách nợ chấm dứt hoạt động kinh doanh, thanh lý tài sản, hoặc kinh doanh bị thua lỗ và tài sản còn lại không đủ để trả nợ. Bản chất của nợ xấu và dấu hiệu nhận biết Bản chất của nợ xấu là một khoản tiền cho vay mà chủ nợ xác định khó có thể thu hồi lại được. Đối với các ngân hàng, nợ xấu là các khoản tiền cho khách hàng vay mà không thể thu hồi lại được.
Các dấu hiệu của khoản nợ có vấn đề có thể được chia thành các nhóm sau: Dấu hiệu từ hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng Trong quá trình hạch toán của khách hàng, xu hướng của các tài khoản của khách hàng qua một quá trình để cung cấp cho ngân hàng một số dấu hiệu quan trọng gồm: Khó khăn trong thanh toán lương; Sự giảm sút số dư tài khoản tiền gửi; Tăng mức sử dụng bình quân trong các tài khoản; Gia tăng các khoản nợ thương mại hoặc không có khả năng thanh toán nợ khi đến hạn. Các hoạt động cho vay như: Mức độ vay thường xuyên gia tăng; Thanh toán chậm các khoản nợ gốc và lãi; Giảm các khoản phải trả và tăng các khoản phải thu; Các hệ số thanh toán phát triển theo chiều hướng xấu,… Dấu hiệu thuộc về quản lý của khách hàng Thay đổi thường xuyên cơ cấu của hệ thống quản trị hoặc BĐH. Hệ thống điều hành luôn bất đồng vì mục đích, quản trị, điều hành độc đoán hoặc quá phân tán. Cách thức hoạch định của khách hàng có biểu hiện: i) Được hoạch định bởi HĐQT hoặc Giám đốc điều hành ít hay không có kinh nghiệm;… ii) Có các chi phí quản lý bất hợp lí: BĐH hoặc thành viên góp vốn sử dụng tiền của doanh nghiệp vào mục đích riêng của cá nhân,… Dấu hiệu từ các thông tin tài chính 12 luan an Chuẩn bị không đầy đủ số liệu tài chính hoặc chậm trễ, trì hoãn các báo cáo tài chính và qua phân tích cho thấy: Sự gia tăng không cân đối về tỷ lệ nợ thường xuyên; Tăng doanh số nhưng giảm lãi hoặc không có lãi; Các tài khoản hạch toán vốn lưu động không khớp; Lượng hàng hóa tăng nhanh hơn doanh số bán… Ngoài ra còn có các dấu hiệu phi tài chính khác: Là dấu hiệu mà mắt thường cán bộ tín dụng có thể nhận biết được như: Những vấn đề về đạo đức; Sự xuống cấp trông thấy của nơi kinh doanh; Nơi lưu trữ hàng hóa quá nhiều, hư hỏng, lạc hậu… 1.
Phân loại nợ xấu và trích lập dự phòng nợ xấu Có rất nhiều tiêu chí phân loại nợ xấu, trên khía cạnh kinh tế, nợ xấu có thể phân chia thành những nhóm sau: (i) Căn cứ vào đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng đối với từng khoản vay trong hiện tại và tương lai, không phân biệt khoản vay hiện tại có quá hạn hay chưa, người ta chia nợ xấu thành: Nợ xấu thông thường: đảm bảo thu hồi đủ 100%; Nợ xấu khó đòi: chỉ có khả năng thu hồi được một phần hoặc thu hồi đầy đủ nhưng thời gian thu hồi kéo dài; Nợ xấu mất trắng: không có khả năng thu hồi. (ii) Căn cứ nguyên nhân có thể chia nợ xấu thành: - Nợ xấu do nguyên nhân bất khả kháng: do thiên tai, do thay đổi cơ chế chính sách, ốm đau,. - Nợ xấu do lỗi của người vay: trình độ quản lý yếu kém, khả năng cạnh tranh kém dẫn đến thua lỗ trong kinh doanh; cố tình trây ỳ không trả nợ… - Nợ xấu do lỗi của người cho vay: trình độ chuyên môn, nghiệp vụ kém dẫn đến không quản lý, theo dõi và phát hiện sớm sai phạm của khách hàng; đồng tình với những sai phạm của khách hàng. (iii) Căn cứ việc xử lý bằng quỹ dự phòng rủi ro tín dụng chia nợ xấu thành: 13 luan an Nợ chưa được xử lý bằng quỹ dự phòng rủi ro tín dụng - Nợ hạch toán nội bảng; Nợ đã được xử lý bằng quỹ dự phòng rủi ro tín dụng - Nợ hạch toán ngoại bảng (iv) Phân loại nợ xấu: Các TCTD căn cứ vào các tiêu chuẩn định tính và định lượng để đánh giá mức độ rủi ro của các khoản vay và cam kết ngoại bảng, trên cơ sở đó phân loại vào các nhóm nợ thích hợp.
Mục đích của việc phân loại trên là trong trường hợp có khoản nợ được phân loại định lượng bị lọt vào nhóm có khả năng rủi ro cao (nợ xấu), thì các TCTD cần phải điều chỉnh nhóm nợ cho phù hợp. Ngoài ra, các TCTD cũng phải phân loại với tài sản có vi phạm nhóm nợ rủi ro cao, đồng thời phải xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ để xếp hạng khách hàng vay vốn theo định kỳ, đây cũng chính là cơ sở để các TCTD cho vay, quản lý chất lượng nợ vay cũng như chính sách dự phòng rủi ro thích hợp. Bên cạnh đó, còn có phân loại nợ theo phương pháp suy đoán, khi khách hàng có từ hai khoản vay trở lên tại một hoặc nhiều TCTD mà có một khoản nợ bất kỳ được xác định là nợ xấu thì toàn bộ các khoản nợ còn lại cũng được xác định là nợ xấu, mục đích của phương pháp phân loại này là tránh việc các TCTD không nắm được tình trạng vay nợ của khách hàng đối với các đơn vị khác, dẫn đến việc đánh giá không chính xác và kịp thời khả năng trả nợ của khách hàng. (v) Trích lập dự phòng nợ xấu Tùy theo tính chất riêng, mỗi khoản nợ sẽ có tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro theo tỷ lệ nhất định theo quy định của pháp luật, số tiền sự phòng không thể chỉ phụ thuộc vào giá trị khoản nợ và tỷ lệ trích lập dự phòng, mà còn phụ thuộc vào giá trị TSBĐ.
Thông thường, việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro được thực hiện theo nguyên tắc sử dụng dự phòng cụ thể đối với từng khoản nợ trước, phát mại TSBĐ để thu hồi nợ, và cuối cùng nếu phát mại tài sản không đủ bù đắp thì mới được sử dụng dự phòng chung. Mục đích của việc 14 luan an trích lập dự phòng nợ xấu là làm giảm thiểu những rủi ro về tài chính và bù đắp tổn thất đối với các khoản nợ của TCTD khi thiệt hại thực tế xảy ra. Những chỉ tiêu cơ bản phản ánh nợ xấu của ngân hàng thương mại a. Mục đích của việc sử dụng các tiêu chí cơ bản phản ánh nợ xấu của Ngân hàng thương mại: Việc đưa ra các chỉ tiêu cơ bản phản ánh nợ xấu của NHTM sẽ giúp cho NHTM có các biện pháp phòng ngừa và hạn chế nợ xấu, bên cạnh đó có các điều chỉnh kịp thời đối với khảu vị cấp tín dụng của ngân hàng đó, cũng như có biện pháp kiểm soát đối với các khách hàng đặc thù, ngành nghề cho vay,.