Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TẬP ĐOÀN BÁO CHÍ 1. “Báo chí, “Truyền thông” Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, “Báo” (thông tin) là ấn phẩm xuất bản và phát hành định kì, phát triển ở hầu hết các nước trên thế giới. Báo ra đời từ lâu ở cả phương Đông và phương Tây. Từ điển Bách khoa toàn thư mở (Wikipedia), “Báo chí” (Journalism) xuất phát từ 2 từ: báo và tạp chí, nói một cách khái quát là những xuất bản ấn phẩm định kỳ song cũng để chỉ cả các loại hình truyền thông khác như đài phát thanh, đài truyền hình.
Định nghĩa này cũng được áp dụng cho một số tạp chí liên tục xuất bản trên web. “Báo chí” là tên gọi chung của các loại hình truyền thông đại chúng. Theo Giáo trình Cơ sở lý luận Báo chí Truyền thông (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội): Truyền thông (Communication) có nghĩa là sự truyền đạt, thông tin, thông báo, giao tiếp, trao đổi, liên lạc, giao thông… Đây là một quá trình liên tục trao đổi hoặc chia sẻ thông tin, tình cảm, kỹ năng nhằm tạo sự liên kết lẫn nhau để dẫn tới sự thay đổi trong hành vi và nhận thức. Truyền thông đại chúng (Mass communication) là quá trình truyền đạt thông tin một cách rộng rãi đến mọi người trong xã hội thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng như báo chí, phát thanh, truyền hình.
Truyền thông đại chúng xuất hiện trên thế giới từ khoảng cuối thế kỷ XIX trở đi, dựa trên cơ sở của nhiều loại tiến bộ kỹ thuật khác nhau trong bối cảnh phát triển xã hội tư bản chủ nghĩa. Các loại hình truyền thông đại chúng (Mass communication hay mass media) được hiểu là phương tiện trung gian giúp cho rộng rãi các tầng lớp công chúng theo dõi, nắm bắt được tình hình tin tức, thời sự đang diễn ra trong xã hội. 13 z Như vậy, là loại hình hoạt động thông tin, báo chí là bộ phận nòng cốt, quan trọng của phương tiện truyền thông đại chúng, là một kênh để thực hiện quá trình truyền thông đại chúng. Trong khi, truyền thông đại chúng là một quá trình xã hội, quá trình truyền tải thông tin ra công chúng thông qua các phương tiện ấy.
Chính vì hoạt động báo chí và truyền thông có mối quan hệ chặt chẽ và mật thiết với nhau nên viêc tách bạch rõ hai khái niệm này là điều rất khó. Đây chính là lý do, trong luận văn, tác giả có sử dụng chung khái niệm tập đoàn báo chí – truyền thông trong chừng mực cụ thể. “Tập đoàn báo chí” Về khái niệm“Tập đoàn báo chí” hiện nay có rất nhiều cách hiểu khác nhau. Nguyên nhân chính bắt nguồn từ sự không nhất quán khi quan niệm về những yếu tố liên quan đến tập đoàn báo chí như: sở hữu, tư cách pháp nhân, loại hình tổ chức - quản lý.
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, “Tập đoàn báo chí” là tổ hợp các cơ quan - đơn vị hoặc doanh nghiệp kinh doanh về lĩnh vực báo chí. Trên Wikipedia (Từ điển Bách khoa toàn thư mở) xuất hiện một số thuật ngữ liên quan đến khái niệm “Tập đoàn báo chí” như “press group” (Tập đoàn báo chí), “media conglomerate” (Tổ hợp truyền thông), “media group” (Tập đoàn truyền thông)…Trong đó, theo trang web của Hiệp hội báo chí thế giới (WAN), “press group” thường được sử dụng để gọi tổ chức có hạt nhân là một cơ quan báo in và cơ quan này có tham gia các hoạt động kinh doanh bổ trợ khác. Trong phần giới thiệu các thành viên của mình, WAN đã đề cập đến chín nhóm báo in có quy mô toàn cầu và quy mô khu vực (nine regional and world – wide pres group). 14 z Tuy nhiên, những thuật ngữ có tính phổ biến hơn “press group” có thể kể đến như “media conglomerate”, “media group”, trong đó, thuật ngữ “media conglomerate” dùng để chỉ các tổng công ty sở hữu một số lượng lớn các công ty con hoạt động trong những loại hình truyền thông khác nhau như phát thanh, truyền hình, xuất bản, điện ảnh, Internet.
Riêng thuật ngữ “media group” có cách hiểu tương đương như cụm từ “press group” nhưng nó là một khái niệm có nội hàm rộng hơn, bao gồm tất cả các loại hình truyền thông chứ không chỉ riêng mỗi loại hình báo in. Ngoài ra, trên thế giới còn sử dụng một số thuật ngữ khác dùng để chỉ “tập đoàn báo chí” như: media organization (tổ chức truyền thông), media mega-group (tập đoàn truyền thông), media empires (đế chế truyền thông), media giants (tập đoàn truyền thông), media corporations (hãng truyền thông/tập đoàn truyền thông)… Từ việc phân tích trên, người viết rút ra định nghĩa chung về tập đoàn báo chí: “Tập đoàn báo chí” là một tập đoàn kinh tế, với hạt nhân chi phối là một hay một số cơ quan hoạt động trong lĩnh vực báo in, báo hình, báo nói hoặc báo điện tử, và cũng có thể tham gia vào một số lĩnh vực kinh doanh ngoài báo chí.ở phạm vi một quốc gia hoặc đa quốc gia. Tập đoàn báo chí là khái niệm có nội hàm hẹp hơn tập đoàn truyền thông. Trong đó, nếu như tập đoàn báo chí có hạt nhân chi phối là một hay một số cơ quan hoạt động trong lĩnh vực báo in, báo hình, báo nói hoặc báo điện tử thì tập đoàn truyền thông hoạt động đa dạng trong lĩnh vực truyền thông như phim ảnh, băng đĩa, xuất bản, quảng cáo, truyền hình, internet… mà không nhất thiết phải có hạt nhân là một cơ quan báo in, báo hình, báo nói hay báo điện tử.
Điều 149, Luật Doanh nghiệp năm 2005 có hiệu lực từ ngày 1/7/2006, quy định: “Tập đoàn kinh tế là nhóm công ty có quy mô lớn”. Trên thế giới, tập đoàn báo chí chủ yếu hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con, trong đó, công ty mẹ nắm quyền lãnh đạo, chi phối về định 15 z hướng tư tưởng, tài chính và chiến lược hoạt động, các công ty con quan hệ tương đối độc lập với công ty mẹ trong việc xuất bản, sản xuất các ấn phẩm báo chí, sản phẩm truyền thông. Đây là một hình thức tổ chức quản lý vừa có chức năng định hướng tư tưởng và chức năng kinh doanh, liên kết sản xuất nhằm tăng cường sức mạnh, tiềm lực báo chí và kinh tế báo chí. Ở nước ta, tập đoàn báo chí không nhất thiết hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con mà phải căn cứ vào thực lực và điều kiện nội tại của các cơ quan báo chí để xây dựng một mô hình phù hợp, đạt hiệu quả cao.
Mô hình tập đoàn báo chí Theo Từ điển Bách khoa tri thức, “mô hình” theo nghĩa hẹp là mẫu, khuôn, tiêu chuẩn theo đó mà chế tạo ra sản phẩm hàng loạt; là thiết bị, cơ cấu tái hiện hay bắt chước cấu tạo hoạt động của cơ cấu khác (của nguyên mẫu hay cái được mô hình hoá) vì mục đích khoa học và sản xuất. [33] Nghĩa rộng là hình ảnh (hình tượng, sơ đồ, sự mô tả…) ước lệ của một khách thể (hay một hệ thống các khách thể, triết học, tin học, kinh tế học. Khái niệm “mô hình” được sử dụng rộng rãi trong tin học, triết học, toán học, kinh tế học, ngôn ngữ học và các khoa học khác. Trong ngành ngôn ngữ là khái niệm trừu tượng về tiêu chuẩn hay biểu mẫu của một hệ thống nào đó, là sơ đồ chung mô tả một hệ thống hay một tiểu hệ thống ngôn ngữ nào đó của ngôn ngữ (hệ thống âm vị, hệ thống ngữ pháp.), là khái niệm về những đặc tính chung nhất của một hiện tượng ngôn ngữ nào đó, là sơ đồ chung mô tả một hệ thống hay một tiểu hệ thống ngôn ngữ nào đó.
Từ khái niệm trên, có thể hiểu, mô hình tập đoàn báo chí là khuôn mẫu, tiêu chuẩn quy định hình thái tổ chức và phương thức hoạt động chung của tập đoàn báo chí. Mô hình tập đoàn báo chí và một số đặc điểm nổi bật của tập đoàn báo chí trên thế giới 1. Sơ lược về lịch sử hình thành các tập đoàn báo chí trên thế giới Lịch sử báo chí thế giới ghi nhận một bước ngoặt lớn vào khoảng giữa thế kỷ XIX khi những người làm báo bắt đầu chú ý đến mục tiêu kinh tế trong hoạt động báo chí, mở rộng phạm vi kinh doanh báo chí ra ngoài biên giới quốc gia, mặc dù sự thay đổi này chủ yếu mới chỉ dừng ở việc cải tiến nội dung để tăng doanh số phát hành. Chính bước ngoặt đó đã làm cơ sở cho sự ra đời của một số thuật ngữ mà đến nay luôn gắn bó với báo chí - truyền thông thế giới như thuật ngữ ngành công nghiệp báo chí “newspaper industry”, ngành công nghiệp truyền thông “media industry”, kinh tế truyền thông “media economics”.
Tập đoàn báo chí đầu tiên trên thế giới là tập đoàn báo chí của Edward Willis Scripps (1854-1926) ra đời ở Mỹ năm 1890 với tên gọi là Scripps- McRae League (Liên minh Scripps-McRae). Tiếp đó là sự hình thành của những tập đoàn “khổng lồ” như: Time Warner (Mỹ), Bertel Smann (Đức), News Corp (Úc)… Có thể thấy rõ bước ngoặt nêu trên khi nghiên cứu nền báo chí Mỹ - một trong những nền báo chí phát triển nhất thế giới, đặc biệt là ở giai đoạn sau cuộc nội chiến 1865 – 1867 với khuynh hướng báo chí làm kinh tế thông qua ba hiện tượng: sự ra đời của nghề làm báo mới new journalism, sự giàu có của nghề làm báo vàng yellow journalism và sự hình thành các hệ thống báo dây chuyền newspapers chains. Nghề làm báo mới ở Mỹ ra đời với khuynh hướng nổi bật là báo chí làm kinh tế đã đưa đến sự phát triển ào ạt của báo chí Mỹ. Báo chí trở thành một ngành kinh doanh lớn với những công ty hùng mạnh, có khả năng tự chủ 17 z về tài chính và thu được nhiều lợi nhuận từ việc làm báo, đặc biệt nó có tính độc lập tương đối trong xã hội.
Nghề làm báo vàng được đánh dấu bởi tên tuổi của W.Randolph Hearst, làm xuất hiện những “Citizen Kane” [28] có khả năng đem lại sự thịnh vượng cho các tờ báo trên khuynh hướng làm báo kinh tế.Randolph Hearst không “dừng lại ở lĩnh vực làm báo, ông còn chuyển sang lĩnh vực tạp chí, xuất bản” và trong lĩnh vực nào ông cũng đạt đến sự thành công. Sự hùng mạnh của các tờ báo làm kinh tế và sự mở rộng, thâm nhập sang các lĩnh vực khác liên quan đến báo chí đã đánh dấu mốc cho sự “manh nha”, “chớm nở” của mô hình báo chí làm kinh tế: mô hình “Tập đoàn báo chí”.