đặt vấn đề, mục tiêu, giới hạn và nội dung đề tài. Chương II: Cơ sở lý thuyết: Chương này trình bày về giới thiệu xe tự hành, các công nghệ khác nhau được sử dụng trong xe tự hành, tổng quan về trí tuệ nhân tạo và lý thuyết và mạng nơ-ron tích chập (CNN). Chương III: Thiết kế phần cứng và lựa chọn thiết bị: Chương này trình bày về thiết kế phần cứng và lựa chọn thiết bị phần cứng cho mô hình xe tự hành. Chương IV: Giải thuật điều khiển xe tự hành : Chương này sẽ trình bày giải thuật, lưu đồ thu thập dữ liệu huấn luyện, điều hướng xe tự hành bằng mô hình đã được huấn luyện, cấu trúc mạng và tối ưu hóa các thông số.
Chương V: Thực nghiệm: Chương này sẽ trình bày về việc thực hiện điều hướng cho xe tự hành theo hai quỹ đạo hình bầu dục và hình số 8. Chương VI: Kết quả: Kết luận chung về ưu điểm và hạn chế của đề tài, khẳng định những kết quả đóng góp đạt được, đề xuất ý kiến để cải thiện khuyết điểm và định hướng phát triển đề tài. 3 Luan van Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA XE TỰ HÀNH 2. Giới thiệu về xe tự hành Xe tự hành là phương tiện được thiết kế để di chuyển giữa các điểm đến mà không cần người lái xe phải liên tục theo dõi đường.
Công nghệ của xe tự hành phải đạt được các mục tiêu sau: - Xử lý một lượng dữ liệu rất lớn và sử dụng nó để đưa ra quyết định thông minh. - Có khả năng thích nghi với môi trường đã biết hoặc chưa biết. Nhìn vào tương lai, chúng ta tin rằng vô lăng của xe sẽ biến mất hoàn toàn và chiếc xe sẽ tự hành một cách tự động kết hợp với việc sử dụng một số hệ thống cảm biến, radar và bản đồ GPS. Xe ô tô ngày càng thông minh hơn được minh họa trong hình 2.1 Những chiếc xe tự hành sử dụng nhiều công nghệ tự động khác nhau để cung cấp một phương thức di chuyển thông minh.
Việc cung cấp loại phương thức này đòi hỏi sự đồng bộ hài hòa giữa các cảm biến thu thập thông tin về môi trường xung quanh và các thuật toán phức tạp xử lý dữ liệu điều khiển xe trong thời gian thực. Những công nghệ này có thể nhận biết đối tượng, con người, ô tô, đánh dấu đường, biển báo và đèn giao thông, tuân thủ các quy tắc của luật giao thông đường bộ và cảnh báo nhiều mối nguy hiểm không thể đoán trước.1: Sự phát triển của xe tự hành trong tương lai 4 Luan van 2. Tổng quan về trí tuệ nhân tạo 2. Trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence- AI) Trí tuệ nhân tạo (AI) có sức mạnh phân chia nhiều ngành công nghiệp, và không có gì ngạc nhiên khi nó là một trong những chủ đề đáng chú ý nhất trong hầu hết các vấn đề về khoa học, kinh tế và xã hội hiện nay.
Tuy nhiên, AI cũng rất hoài nghi và các ứng dụng của nó: ngoài việc được áp dụng mạnh mẽ trong quy trình vận hành cũng như sản xuất của các công ty tiên tiến, AI còn được cho là sẽ thay thế công nhân của con người và phá hủy ngành công nghiệp như chúng ta biết Trí tuệ nhân tạo được hiểu đơn giản là máy móc sử dụng các quá trình ra quyết định hoặc tính toán bắt chước nhận thức của con người. Trong thực tế, điều này đòi hỏi một loại máy có cấu hình phải hiểu thông tin về môi trường của nó, cho dù đó là một không gian vật lý hay thông tin liên quan từ cơ sở dữ liệu. Sau đó, một hệ thống thông minh nhân tạo có thể sử dụng dữ liệu này để tối ưu hóa các hành động giúp đạt được mục tiêu cụ thể, như thực hiện lại một hoạt động đã được huấn luyện trước đó hay chiến thắng một ván cờ. Trí tuệ nhân tạo là một lĩnh vực rộng bao gồm một số trường con, kỹ thuật và thuật toán.
Lĩnh vực trí tuệ nhân tạo dựa trên mục tiêu tạo ra một cỗ máy thông minh như con người. Đó thực sự là mục tiêu bao trùm ban đầu. Quay trở lại năm 1956, các nhà nghiên cứu đã đến với nhau tại Dartmouth với mục tiêu rõ ràng là lập trình máy tính để hành xử giống như con người. Đây là sự ra đời hiện đại của trí tuệ nhân tạo như chúng ta biết ngày nay.
Để giải thích thêm về các mục tiêu của trí tuệ nhân tạo, các nhà nghiên cứu đã mở rộng mục tiêu chính của họ sang sáu mục tiêu chính sau: - Lý luận logic: Cho phép máy tính thực hiện các loại nhiệm vụ tinh thần phức tạp mà con người có khả năng thực hiện. Ví dụ về giải quyết các vấn đề lý luận logic này bao gồm chơi cờ và giải các bài toán đại số. 5 Luan van - Trình bày kiến thức: Cho phép máy tính mô tả các đối tượng, con người và ngôn ngữ. Ví dụ về điều này bao gồm ngôn ngữ lập trình hướng đối tượng, chẳng hạn như Smalltalk.
- Lập kế hoạch và điều hướng: Cho phép một robot đi từ điểm A đến điểm B. Ví dụ, robot tự lái đầu tiên được chế tạo vào đầu năm 1960. - Xử lý ngôn ngữ tự nhiên: Cho phép máy tính hiểu và xử lý ngôn ngữ. Một trong những dự án đầu tiên liên quan đến vấn đề này, đã cố gắng dịch tiếng Anh sang tiếng Nga và ngược lại.
- Nhận thức: Cho phép máy tính tương tác với thế giới thông qua thị giác, thính giác, xúc giác và khứu giác. Ngay cả với những mục tiêu chính này, điều này không phân loại các thuật toán và kỹ thuật trí tuệ nhân tạo cụ thể. Đây chỉ là sáu trong số các thuật toán và kỹ thuật chính trong trí tuệ nhân tạo: - Machine Learning là lĩnh vực trí tuệ nhân tạo cung cấp cho máy tính khả năng học mà không cần lập trình rõ ràng. - Tìm kiếm và tối ưu hóa: Các thuật toán như Gradient Descent để lặp lại tìm kiếm tối đa hoặc tối thiểu cục bộ.
- Sự thỏa mãn ràng buộc là quá trình tìm giải pháp cho một tập hợp các ràng buộc áp đặt các điều kiện mà các biến phải thỏa mãn. - Lý luận logic: Một ví dụ về lý luận logic trong trí tuệ nhân tạo là một hệ thống máy tính chuyên gia mô phỏng khả năng ra quyết định của một chuyên gia về con người. - Lý luận xác suất là kết hợp lý thuyết xác suất để xử lý sự không chắc chắn với năng lực logic suy diễn để khai thác cấu trúc của lập luận chính thức. - Lý thuyết điều khiển là một cách tiếp cận chính thức để tìm các bộ điều khiển có các thuộc tính có thể chứng minh được.
Điều này thường liên quan đến một hệ thống các phương trình vi phân, thường mô tả một hệ thống vật lý như robot hoặc máy bay. 6 Luan van Hình 2.2: Mối quan hệ giữa AI, Machine Learning và Deep Learning Trí tuệ nhân tạo, học máy và học sâu là mỗi tập hợp con của trường trước đó như trong Hình 2. Trí tuệ nhân tạo là thể loại bao quát cho Machine Learning. Ngoài ra, Machine Learning là danh mục bao quát cho Deep Learning.
Machine Learning Machine Learning là một tập hợp con của trí tuệ nhân tạo. Trí tuệ nhân tạo nhằm mục đích làm cho máy tính trở nên thông minh, khái niệm Machine Learning được hiểu rằng chúng ta nên cung cấp dữ liệu cho máy tính và để máy tính tự học. Ý tưởng cho rằng máy tính có thể tự học được đã được Arthur Samuel đưa ra vào năm 1959. Một bước đột phá lớn đã dẫn đến sự xuất hiện của Machine Learning với tư cách là động lực thúc đẩy trí tuệ nhân tạo là phát minh của internet.
Internet đi kèm với một lượng lớn thông tin về kỹ thuật số đang được tạo ra, lưu trữ và cung cấp để phân tích. Đây là khi bạn bắt đầu nghe về dữ liệu lớn (big data). Hơn nữa, các thuật toán Machine Learning đã có hiệu quả nhất trong việc tận dụng tất cả dữ liệu lớn này. Mạng nơ-ron là một phần quan trọng và thành công nhất của một số thuật toán Machine Learning.
Sự phát triển của mạng lưới thần kinh là chìa khóa để dạy máy tính suy nghĩ và hiểu thế giới theo cách mà con người làm. Về cơ bản, một mạng lưới thần kinh mô phỏng bộ não của con người. Các tế bào não, hay tế bào thần kinh, được kết nối thông qua các khớp thần kinh. Điều này được trừu tượng hóa như một biểu 7 Luan van đồ của các nút (nơ ron) được kết nối bởi các cạnh có trọng số (khớp thần kinh).
Cấu trúc của một tế bào thần kinh sinh học được minh họa trong hình 2. Bộ não của chúng ta sử dụng các mạng nơ-ron liên kết cực lớn để xử lý thông tin và mô hình hóa thế giới chúng ta đang sống. Các đầu vào được truyền qua mạng lưới các nơ-ron này tạo ra đầu ra. Trong trường hợp não sinh học, điều này có thể dẫn đến việc co thắt cơ bắp hoặc báo hiệu tuyến mồ hôi của bạn tiết ra mồ hôi.
Một nơ- ron thu thập các đầu vào bằng cách sử dụng một cấu trúc gọi là đuôi gai, nơ-ron tổng hợp một cách hiệu quả tất cả các đầu vào này từ các sợi nhánh và nếu giá trị kết quả lớn hơn ngưỡng loại bỏ của nó, thì nơ-ron sẽ xuất ra. Khi tế bào thần kinh xuất ra, nó sẽ gửi một xung điện qua sợi trục của tế bào thần kinh đến các nút của nó. Những nút này sau đó có thể được nối mạng với hàng ngàn tế bào thần kinh khác thông qua các kết nối được gọi là khớp thần kinh. Có khoảng một trăm tỷ (100.000) tế bào thần kinh bên trong não người, mỗi bộ có khoảng một nghìn kết nối khớp thần kinh.
Đó là cách hiệu quả mà các khớp thần kinh này có dây mang lại cho bộ não của chúng ta khả năng xử lý thông tin theo cách chúng làm.3: Cấu trúc của một tế bào thần kinh sinh học 8 Luan van Các mô hình nơ-ron ở các mô hình đơn giản hóa của chúng cốt lỗi dựa trên các nơ-ron sinh học. Điều này cho phép họ nắm bắt được bản chất của một tế bào thần kinh sinh học hoạt động như thế nào. Chúng ta thường gọi những tế bào thần kinh nhân tạo này là “nhận thức” (perceptions). Như được hiển thị trong Hình 2.4, một tri giác (perceptron) điển hình sẽ có nhiều đầu vào và các đầu vào này đều có trọng số riêng.
Các trọng số perceptron có thể khuếch đại hoặc khử tín hiệu đầu vào ban đầu.