CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 11 Luan van 1. GIỚI THIỆU MÔ HÌNH Hệ SIMO là một lớp các đối tượng quan trọng trong lĩnh vực điều khiển cân bằng, được đại diện bởi các đối tượng chỉ có 1 tín hiệu điều khiển nhưng phải tác động đến nhiều biến trạng thái của hệ (một số đối tượng được thể hiện từ Hình 1 đến Hình 4). Hệ bóng thanh trục giữa [16] Hình 2. Hệ bóng thanh trục lệch [17] Hình 3.
Hệ con lắc ngược trên xe[18] Hình 4. Hệ con lắc ngược quay của Quanser Hình 6. Hệ reaction wheel inverted pendulum [20] Hình 5. Hệ cần trục [19] 12 Luan van Các hệ thống trên đều có đặc điểm chung là đơn giản về cơ khí nhưng mô tả tốt các hệ phi tuyến có thể gặp, rất phù hợp để đào tạo và nghiên cứu trong phòng thí nghiệm có chi phí thấp.
Việc giải quyết vấn đề của một đối tượng có ảnh hưởng tương ứng đến các đối tượng khác. Do đó, việc nghiên cứu giải thuật thành công trên một đối tượng cân bằng trong phòng thí nghiệm như con lắc ngược có thể hỗ trợ cho việc thiết kế bộ cân bằng cho tên lửa khi phóng… Trong các hệ thống trên, pendubot là một hệ SIMO điển hình [3] thường được sử dụng trong nghiên cứu lý thuyết điều khiển. Cấu trúc thông thường về cơ khí được thể hiện ở Hình 7. Việc có cấu trúc cơ khi đơn giản, dễ chế tạo, gía thành rẻ nhưng có tính phi tuyến cao giúp hệ thống này là một đối tượng lý tưởng để sinh viên/ học viên cao học / nghiên cứu sinh nghiên cứu về giải thuật.
Cấu trúc cơ khí của pendubot Trong hệ thống này, động cơ được gắn cố định trên bệ. Trên trục động cơ được gắn cố định một thanh đồng chất ở 1 đầu, gọi là link 1. Nhờ động cơ có sẵn encoder, ta biết được góc quay của link 1. Như vậy, sự quay quanh trục của động cơ điều khiển link 1 theo vị trí mong muốn.
Đầu còn lại của link 1 được gắn cố định 1 encoder và trục encoder được gắn cố định với 1 thanh đồng chất tương tự, gọi là link 2. Như vậy link 2 có thể được điều khiển quay quanh trục ở 1 đầu link 1 thông qua sự quay của link 1. Như vậy, động cơ không điều khiển trực tiếp link 2 được mà thông qua điều khiển link 1. 13 Luan van Đối với bài toán điều khiển pendubot, có hai vị trí điều khiển là TOP (Hình 8) và MID (Hình 9) trong trường hợp điều khiển ổn định tại chỗ.
Đối với điều khiển ở vị trí TOP, động cơ sẽ phải tác động theo một giải thuật phù hợp để giữ ổn định link 1 và link 2 ở vị trí thẳng đứng hướng lên. Đối với điều khiển ở vị trí MID, động cơ sẽ phải tác động theo một giải thuật phù hợp để hệ ổn định ở vị trí mà link 1 hướng xuống và link 2 dựng thẳng đứng hướng lên. Thông thường, điều khiển vị trí TOP được quan tâm nhiều hơn so với điều khiển ở vị trí MID. Đồng thời, việc điều khiển quỹ đạo của pendubot được thực hiện bằng cách điều khiển sao cho link 1 bám theo 1 quỹ đạo cho trước trong khi link 2 vẫn đứng yên thẳng đứng hướng lên.
Vị trí TOP Hình 9. Vị trí MID Ngoài ra, còn một vị trí mà pendubot không điều khiển được (Hình 10 và Hình 11) Hình 10. Vị trí không điều khiển được Hình 11. Vị trí không điều khiển được thứ 1 thứ 2 Việc xác định các vị trí mà pendubot không điều khiển được chủ yếu để giới hạn khoảng giá trị đặt khi điều khiển quỹ đạo (link 1 bám quỹ đạo) không chạm đến các giới hạn vị trí trên.
Các vị trí không điều khiển được cũng như các vị trí điều 14 Luan van khiển được có thể chứng minh dễ dàng thông qua tính toán ma trận điều khiển được trong lý thuyết điều khiển. MÔ hình pendubot thực tế của Hình 13. MÔ hình pendubot thực tế của đại học Illinois [15] sinh viên HCMUTE chế tạo và điều khiển[12] 2. PHƯƠNG TRÌNH TOÁN HỌC Theo [1], phương trình toán học hệ pendubot là (1) D q q C q, q q G q Với q , 1 0 ; T T 1 2 23 cos 2 3 cos D( q ) ; 2 3 cos 2 sin 3 sin 3 sin C ( q, q ) 3 ; 3 sin 0 4 g cos 5 g cos( ) G (q) ; 5 g cos( ) 15 Luan van 1 m1lc12 m2l12 I1 ; 2 m2lc 22 I 2 ; 3 m2l1lc 2 ; 4 m1lc1 m2l1 ; 5 m2lc 2 ; là tín hiệu momen do động cơ tạo ra để điều khiển hệ thống Hình 14.
Cấu trúc mô hình pendubot Bảng 1. Thông số mô hình Kí hiệu Mô tả Giá trị m1 Khối lượng link 1 0.137kg l1 Chiều dài link 1 0.2m l c1 Khoảng cách từ trục motor đến trọng tâm link 1 0.1m I1 Momen quán tính của link 1 0.0017 kgm2 m2 Khối lượng của link 2 0.042 kg 16 Luan van l2 Chiều dài của link 2 0.22m l c2 Khoảng cách từ encoder gắn trên link 1 đến trọng 0.105m tâm của link 2 I2 Momen quán tính của link 2 0.00015 kgm2 g Gia tốc trọng trường 9.8 m/s2 b1 Chiều rộng của link 1 0.03m b2 Chiều rộng của link 2 0.03m msensor Khối lượng của encoder kết nối giữa link 1 và link 2 0.1kg rsensor Bán kính encoder kết nối giữa link 1 và link 2 0.02m Với m1 l12 b12 msensor rsensor lc21 ; 1 I1 2 12 m2 l22 b2 2 1 I2 12 Để tạo nền tảng cho mô phỏng bám sát thực tế, tín hiệu điều khiển hệ thống được chọn để mô phỏng không nên là tín hiệu momen. Tín hiệu điều khiển đối tượng thực cho hệ thống thông thường là điện áp cấp cho động cơ (thông quá tín hiệu PWM cấp cho driver động cơ). Theo [13], động cơ được nhận dạng và có phương trình toán học như sau (2) Kb K K V b t Rm Rm Thông số động cơ được định nghĩa và chọn lựa như sau Bảng 2.
Thông số động cơ DC Kí hiệu Mô tả Giá trị Rm Điện trở nội 6.8 17 Luan van Kb Hằng số “antistatic” 0.065Nm/A Kt Hằng số momen 0.065Nm/A L Điện cảm động cơ 0.25H Jm Momen quán tính của động cơ 10-4 Nm/(kgm2) Thay thế (2) vào (1), ta được phương trình toán học của hệ pendubot được diễn tả theo hệ phương trình toán học sau (3) x2 f1 x g1 x F x4 f 2 x g 2 x F Trong đó, các biến trạng thái mới được định nghĩa như sau (4) x1 x , x3 , x4 2, 2 Việc chuyển đổi biến trạng thái như vậy để quy đổi các biến trạng thái về 0 khi hệ thống ổn định ở vị trí TOP. Việc điều khiển về trạng thái 0 là chuẩn hóa việc điều khiển theo các giải thuật có sẵn, được thiết kế cho việc ổn định hệ thống. Thông thường, trong hoạt động của hệ thống thực, sẽ xuất hiện sự sai lệch do nhiễu tác động vào hệ thống. Ngoài ra, do việc đo đạc thông số mô hình không chính xác, nhiễu đo lường này cũng ảnh hưởng đến việc điều khiển và mô phỏng của hệ thống.
Các nhiễu đó được định nghĩa là d1 và d2 để bổ sung vào phương trình toán học của hệ thống (3) để có hệ phương trình toán học hệ thống khi có nhiễu là x2 f1 x g1 x V d1 (5) x4 f 2 x g 2 x V d 2 Các hàm số phi tuyến f1 x , g1 x , f 2 x và g2 x có thể được viết gọn lại là f1 , g1 , f 2 và g 2 3. GIẢI THUẬT ĐIỀU KHIỂN 3. Thiết kế giải thuật Nền tảng ổn định của điều khiển trượt cũng giống với các giải thuật điều khiển phi tuyến khác như backstepping, thụ động, tuyến tính hóa vào ra … là áp dụng tính 18 Luan van toán ổn định theo Lyapunov. Theo Qian [8], một giải thuật trượt HSMC đã được giới thiệu và ổn định tốt tại chỗ cho hệ SIMO.
Tuy nhiên, việc chứng minh lại và áp dụng cho điều khển bám quỹ đạo có thể được mở rộng cho hệ HSMC được nhóm nghiên cứu mở rộng như phần dưới. Nhóm định nghĩa lại 2 mặt trượt ứng với góc thanh 1 và góc thanh 2 như sau: (6) s1 e1 c1e1 , s2 e2 c2e2 Trong đó, ei xi xid , ei xi xid với i 1, 2 và c1 , c2 là hằng số. Biến xid là giá trị đặt mong muốn của xi. Đạo hàm 2 mặt trượt ở (5) theo thời gian t và cho bằng 0, luật điều khiển cho từng mặt trượt thu được như sau: (7) f ce x f c e x ueq1 1 1 1 1d , ueq 2 2 2 2 2 d g1 g2 Giả sử 1: Để có thể tính toán được ueq1 , u eq 2 ở (5) thì g1 , g 2 hữu hạn và khác 0, luật điều khiển chung để ổn định cho toàn hệ thống được tổng hợp từ luật điều khiển của các mặt trượt và khóa điều khiển.
Luật điều khiển chung này được định nghĩa như sau: (8) u ueq1 ueq 2 usw Định nghĩa một mặt trượt tổng hợp 2 mặt trượt con ở (6) như sau: (9) S a1s1 a2 s2 Trong đó, a1 , a2 là hằng số và lớn hơn 0. Đạo hàm S theo thời gian t , ta thu được: (10) S a1s1 a2 s2 a1 f1 g1u x1d c1e1 a2 f2 g2u x2d c2e2 Thế luật điều khiển (8), (9) vào (10), ta được: S a1 c1e1 f1 x1d a2 c2e2 f 2 x2d a1g1 a2 g 2 ueq1 ueq 2 usw (11) Đặt 19 Luan van (12) S Qsign(S) KS Trong đó, Q và S là hằng số dương.