Xây dựng, sử dụng bài tập thực nghiệm dạy Hóa phi kim THPT - Nguyễn Thị Hồng Quyên

Nghiên cứu cách xây dựng và sử dụng hiệu quả bài tập thực nghiệm Hóa học phi kim cấp THPT. Nâng cao chất lượng dạy và học môn Hóa học.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ Giáo dục học

2011

165
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về bài tập thực nghiệm Hóa phi kim THPT

Bài tập thực nghiệm trong dạy học Hóa phi kim THPT đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục. Chúng giúp học sinh tiếp cận kiến thức thông qua hoạt động thực tế, phát triển kỹ năng quan sát, phân tích và giải quyết vấn đề. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Quyên (2011), hệ thống bài tập thực nghiệm góp phần khắc phục hạn chế của phương pháp thuyết trình truyền thống, kích thích hứng thú học tập. Các bài tập này thường liên quan đến thí nghiệm điều chế, nhận biết, tách chất phi kim hoặc hợp chất của chúng. Chúng được thiết kế phù hợp với chương trình giáo dục phổ thông, đảm bảo tính khoa học, an toàn và khả thi trong điều kiện trường học. Việc tích hợp bài tập thực nghiệm vào giảng dạy giúp học sinh nắm vững bản chất hiện tượng hóa học, đồng thời rèn luyện tư duy logic và kỹ năng thực hành.

1.1. Định nghĩa bài tập thực nghiệm Hóa phi kim

Bài tập thực nghiệm Hóa phi kim là dạng bài tập yêu cầu học sinh thực hiện thí nghiệm để thu thập dữ liệu, quan sát hiện tượng và rút ra kết luận về tính chất, phản ứng của các nguyên tố phi kim. Chúng khác biệt với bài tập lý thuyết ở chỗ đòi hỏi học sinh trực tiếp thao tác với hóa chất, dụng cụ thí nghiệm. Theo phân loại của Bộ Giáo dục, các bài tập này bao gồm thí nghiệm định tính (nhận biết, điều chế) và định lượng (xác định nồng độ, khối lượng). Nội dung thường tập trung vào nhóm halogen, oxi-lưu huỳnh, cacbon-silic. Điểm cốt lõi là học sinh phải hiểu rõ mục đích thí nghiệm, lựa chọn dụng cụ phù hợp và ghi chép quan sát một cách khoa học.

1.2. Vai trò trong chương trình Hóa học THPT

Trong chương trình Hóa học THPT, bài tập thực nghiệm phi kim chiếm tỷ lệ đáng kể tại các chương về phi kim (nhóm VIIA, VIA, IVA). Chúng xuất hiện trong sách giáo khoa dưới dạng hướng dẫn thí nghiệm kèm theo câu hỏi gợi ý. Vai trò chính là củng cố kiến thức lý thuyết thông qua thực hành, ví dụ như thí nghiệm điều chế khí clo từ KMnO4 và HCl. Ngoài ra, chúng phát triển năng lực thực hành thí nghiệm theo chuẩn giáo dục phổ thông mới, bao gồm kỹ năng sử dụng dụng cụ, xử lý sự cố và báo cáo kết quả. Đặc biệt, các bài tập này giúp học sinh kết nối kiến thức lớp 10-11 với ứng dụng thực tế trong đời sống, như sử dụng khí CO2 trong chữa cháy hoặc clo trong khử trùng.

II. Phân tích thực trạng sử dụng bài tập thực nghiệm phi kim

Hiện nay, việc sử dụng bài tập thực nghiệm phi kim trong dạy học THPT gặp nhiều hạn chế do điều kiện cơ sở vật chất không đồng đều giữa các trường. Nhiều giáo viên thiếu thời gian hoặc kinh nghiệm để tổ chức thí nghiệm, dẫn đến ưu tiên phương pháp thuyết trình. Theo thống kê của Nguyễn Thị Hồng Quyên (2011), chỉ 30% giáo viên thường xuyên tổ chức thí nghiệm phi kim do thiếu dụng cụ, hóa chất hoặc lo ngại rủi ro an toàn. Học sinh cũng gặp khó khăn trong việc tiếp cận thí nghiệm do lớp đông, thiếu dụng cụ cá nhân. Bên cạnh đó, sách giáo khoa và tài liệu tham khảo chưa cung cấp đầy đủ hướng dẫn chi tiết cho giáo viên. Một vấn đề khác là bài tập thực nghiệm thường mang tính hình thức, không gắn với bối cảnh thực tế, khiến học sinh mất hứng thú. Thực trạng này đòi hỏi đổi mới phương pháp giảng dạy, ưu tiên thí nghiệm đơn giản, an toàn và có tính ứng dụng cao.

2.1. Hạn chế về cơ sở vật chất và điều kiện

Cơ sở vật chất là rào cản lớn nhất đối với việc triển khai bài tập thực nghiệm phi kim. Nhiều trường THPT thiếu phòng thí nghiệm đạt chuẩn, dụng cụ thí nghiệm không đầy đủ hoặc xuống cấp. Hóa chất sử dụng trong thí nghiệm phi kim như dung dịch AgNO3, dung dịch brom thường đắt tiền và khó bảo quản. Giáo viên cũng phải đối mặt với nguy cơ mất an toàn do học sinh chưa được đào tạo kỹ năng sử dụng hóa chất nguy hiểm. Ngoài ra, thời gian chuẩn bị thí nghiệm (lắp ráp dụng cụ, pha chế dung dịch) chiếm dụng thời gian giảng dạy, gây áp lực lên tiến độ chương trình. Một số trường tổ chức thí nghiệm theo nhóm lớn, khiến học sinh không có cơ hội trực tiếp quan sát hoặc thao tác, giảm hiệu quả giáo dục.

2.2. Thiếu hụt tài liệu hướng dẫn chi tiết

Tài liệu hướng dẫn triển khai bài tập thực nghiệm phi kim cho giáo viên còn hạn chế cả về số lượng lẫn chất lượng. Sách giáo khoa chỉ cung cấp sơ đồ thí nghiệm kèm theo câu hỏi ngắn, không giải thích chi tiết các bước tiến hành hoặc lưu ý an toàn. Giáo viên buộc phải tự nghiên cứu, tham khảo nhiều nguồn khác nhau, dẫn đến mất thời gian và không nhất quán trong phương pháp giảng dạy. Ngoài ra, nhiều tài liệu hướng dẫn thí nghiệm phi kim không cập nhật theo chương trình giáo dục mới, khiến nội dung trở nên lỗi thời. Thiếu các video minh họa hoặc hướng dẫn trực quan cũng là một trở ngại, đặc biệt đối với giáo viên trẻ chưa có kinh nghiệm thực hành.

III. Phương pháp xây dựng hệ thống bài tập thực nghiệm phi kim

Để xây dựng hệ thống bài tập thực nghiệm phi kim hiệu quả, giáo viên cần tuân thủ quy trình khoa học gồm 5 bước: xác định mục tiêu, lựa chọn thí nghiệm, thiết kế bài tập, thử nghiệm và đánh giá. Mục tiêu phải rõ ràng, gắn với chuẩn kiến thức kỹ năng của chương trình. Thí nghiệm được chọn phải đơn giản, an toàn, sử dụng hóa chất dễ kiếm và có ý nghĩa thực tế. Bài tập cần bao gồm hướng dẫn chi tiết, bảng quan sát và câu hỏi gợi mở để học sinh tự rút ra kết luận. Giáo viên nên ưu tiên thí nghiệm minh họa cho tính chất hóa học cơ bản, như phản ứng của phi kim với kim loại hoặc dung dịch. Sau thử nghiệm, giáo viên đánh giá mức độ hiểu bài của học sinh thông qua báo cáo thí nghiệm hoặc thảo luận nhóm.

3.1. Lựa chọn thí nghiệm phù hợp chương trình

Việc lựa chọn thí nghiệm phải dựa trên ba tiêu chí: tính khoa học, tính an toàn và tính khả thi. Giáo viên cần ưu tiên thí nghiệm có thể thực hiện trong 1 tiết học, sử dụng hóa chất dễ kiếm như dung dịch NaCl, CaCO3, than hoạt tính. Nội dung thí nghiệm phải gắn với kiến thức trong sách giáo khoa, ví dụ thí nghiệm điều chế khí CO2 từ đá vôi hoặc nhận biết khí SO2 bằng dung dịch brom. Đối với thí nghiệm nguy hiểm như điều chế khí clo, giáo viên cần thay thế bằng thí nghiệm an toàn hơn như phản ứng giữa NaCl rắn và H2SO4 đặc. Ngoài ra, thí nghiệm nên có tính ứng dụng cao, giúp học sinh thấy được tầm quan trọng của phi kim trong đời sống, như sử dụng khí oxi trong y tế hoặc than hoạt tính trong xử lý ô nhiễm.

3.2. Thiết kế bài tập theo hướng phát triển năng lực

Bài tập thực nghiệm phi kim cần được thiết kế theo hướng phát triển năng lực của học sinh, bao gồm năng lực thực hành, năng lực giải quyết vấn đề và năng lực sáng tạo. Giáo viên nên xây dựng bài tập dạng mở, yêu cầu học sinh tự đề xuất phương án thí nghiệm để chứng minh một tính chất hóa học. Ví dụ, thay vì hướng dẫn sẵn cách nhận biết khí clo, học sinh phải tự lựa chọn thuốc thử phù hợp từ các dung dịch sẵn có. Bài tập cũng nên tích hợp đa dạng hình thức, như thí nghiệm ảo trên phần mềm, thí nghiệm mô phỏng hoặc thí nghiệm kết hợp lý thuyết. Giáo viên cần cung cấp phiếu hướng dẫn chi tiết, bảng quan sát có sẵn và câu hỏi định hướng để học sinh tập trung vào mục tiêu học tập.

IV. Ứng dụng và triển vọng phát triển bài tập thực nghiệm

Bài tập thực nghiệm phi kim mang lại nhiều lợi ích cho quá trình dạy học, từ củng cố kiến thức đến phát triển kỹ năng sống. Chúng giúp học sinh hiểu sâu sắc bản chất hóa học thông qua quan sát trực tiếp, khắc phục tình trạng học thuộc lòng. Theo nghiên cứu, học sinh tham gia thí nghiệm thường đạt điểm cao hơn trong bài kiểm tra thực hành và có thái độ tích cực hơn đối với môn học. Trong tương lai, việc ứng dụng công nghệ 4.0 sẽ mở ra triển vọng mới, như thí nghiệm ảo trên phần mềm mô phỏng hoặc thí nghiệm từ xa qua video trực tuyến. Giáo viên cần chủ động cập nhật tài liệu, tham gia tập huấn về phương pháp giảng dạy tích cực để nâng cao chất lượng giáo dục. Đặc biệt, sự phối hợp giữa nhà trường, phụ huynh và cộng đồng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai bài tập thực nghiệm phi kim trong nhà trường.

4.1. Hiệu quả giáo dục và định hướng đổi mới

Hiệu quả giáo dục từ bài tập thực nghiệm phi kim thể hiện rõ qua kết quả học tập và sự phát triển toàn diện của học sinh. Các nghiên cứu cho thấy học sinh tham gia thí nghiệm có khả năng vận dụng kiến thức vào giải quyết vấn đề cao hơn 20% so với nhóm không tham gia. Đặc biệt, thí nghiệm giúp phát triển kỹ năng hợp tác, giao tiếp và tư duy phản biện thông qua thảo luận nhóm. Định hướng đổi mới trong thời gian tới tập trung vào ba khía cạnh: đa dạng hóa hình thức thí nghiệm (ảo, mô phỏng, kết hợp), tích hợp giáo dục STEM và tăng cường hợp tác giữa trường học với doanh nghiệp, viện nghiên cứu. Giáo viên cần chủ động nghiên cứu, sáng tạo trong thiết kế bài tập để phù hợp với điều kiện thực tế của trường mình.

4.2. Giải pháp nâng cao chất lượng triển khai

Để nâng cao chất lượng triển khai bài tập thực nghiệm phi kim, cần có sự chung tay của nhiều bên. Nhà trường cần đầu tư cơ sở vật chất, mua sắm dụng cụ thí nghiệm cơ bản và hóa chất an toàn. Giáo viên nên tham gia các khóa tập huấn về phương pháp giảng dạy tích cực và an toàn thí nghiệm. Phụ huynh có thể hỗ trợ bằng cách đóng góp kinh phí mua hóa chất hoặc dụng cụ thí nghiệm đơn giản. Ngoài ra, sự hợp tác giữa trường học và các viện nghiên cứu sẽ giúp giáo viên cập nhật kiến thức mới và phương pháp thí nghiệm tiên tiến. Chính sách của Bộ Giáo dục cũng cần khuyến khích việc triển khai thí nghiệm trong giảng dạy, ví dụ như giảm tải chương trình để giáo viên có thời gian chuẩn bị thí nghiệm.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

18/04/2026
Luận văn hóa học 44 xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập thực nghiệm trong dạy học phần hóa học phi kim ở trường trung học phổ thông

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề rõ ràng, hướng dẫn HS quan sát, giải thích những vấn đề liên quan giữa nội dung bài học với hiện tượng thí nghiệm xảy ra, dẫn dắt để HS đi đến những kết luận khoa học hướng vào nội dung cơ bản của bài học. Kĩ năng thí nghiệm hoá học 1. Kĩ năng Có nhiều cách hiểu về kĩ năng: www.com Theo Từ điển Tiếng Việt – Nhà xuất bản văn hoá thông tin 1998 định nghĩa: “Kĩ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được vào thực tế”. Theo tác giả Lê Văn Hồng: “kĩ năng là khả năng vận dụng kiến thức (khái niệm, cách thức, phương pháp…) để giải quyết một nhiệm vụ mới”.

Theo tác giả Nguyễn Như An: “kĩ năng là khả năng thực hiện có kết quả một số thao tác hay một loạt các thao tác phức tạp của một hành động sư phạm bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri thức, những cách thức, những qui trình hợp lí”.Đanhilop: “Kĩ năng là khả năng con người biết sử dụng có mục đích và sáng tạo những kiến thức của mình trong hoạt động lí thuyết cũng như thực tiễn. Kĩ năng bao giờ cũng xuất phát từ kiến thức và dựa trên kiến thức, kĩ năng chính là kiến thức trong hành động”. Như vậy kĩ năng là khả năng thực hiện một cách hợp lí những hành động trí tuệ và hành động chân tay trong những tình huống đã được thay đổi. Dấu hiệu đặc trưng của kĩ năng là nhận thức đầy đủ về mục đích của hoạt động và biết lựa chọn con đường đúng nhất, ngắn nhất để thực hiện.

Kĩ năng thực hành hoá học Kiến thức là cơ sở và nền tảng để hình thành kĩ năng, nhưng ngược lại việc nắm vững các kĩ năng sẽ có tác dụng trở lại giúp kiến thức linh hoạt, sống động hơn. Trong lí luận dạy học đã khẳng định rằng: Không có tri thức sẽ không có kĩ năng, không có việc áp dụng tri thức sẽ không đạt được sự phát triển của kĩ năng, ngược lại nếu chỉ có tri thức mà không có kĩ năng, không biết áp dụng tri thức thì những kiến thức đó sẽ trở thành vô dụng. Kĩ năng THHH bao gồm kĩ năng tiến hành thí nghiệm, kĩ năng sử dụng dụng cụ thí nghiệm, kĩ năng làm việc với hoá chất, kĩ năng làm BTHHthực nghiệm, kĩ năng ứng dụng hoá học trong thực tiễn…. Vai trò của kĩ năng thí nghiệm hoá học [51, 52] a/ Kĩ năng thực hành thí nghiệm hoá học đóng vai trò hết sức quan trong trong việc nghiên cứu và dạy hoá học.

Vì những lí do sau đây: - Hoá học là môn khoa học thực nghiệm và lí thuyết. Đặc trưng này quyết định bản chất phương pháp nhận thức hoá học đó là kết hợp thực nghiệm khoa học với lí thuyết, đề cao vai trò của giả thuyết, học thuyết, định luật hoá học. - Là nội dung kiến thức hoá học phổ thông. Đối tượng của hoá học là các chất tạo bởi nguyên tử, phân tử, hạt nhân nguyên tử, điện tử, ion… Chúng đều là những phần tử vi mô, www.com không quan sát được bằng mắt thường.

Chúng lại tương ứng với những khái niệm trừu tượng HS cần phải lĩnh hội vững chắc. Phản ứng hoá học là sự phá vỡ phân tử của những chất ban đầu để tập hợp thành phân tử của những chất được tạo thành. Những diễn biến này cũng ở dạng vi mô. Đó cũng là những kiến thức cơ bản HS cần phải nắm vững.

Trong DHHH buộc phải dùng những mô hình cụ thể ở kích thước vĩ mô để diễn tả cấu tạo phân tử của các chất và cơ chế các phản ứng hoá học và dựa trên những biểu hiện bên ngoài của chúng giúp HS suy ra tính chất các chất và cấu tạo phân tử của chúng. Điều này đòi hỏi ở HS một trình độ phát triển nhất định của tư duy trừu tượng, một KN nhất định trong việc sử dụng mô hình, phương pháp mô hình hoá (kí hiệu, công thức, PTHH được xếp vào loại mô hình này). - Được xác định trong mục tiêu dạy học do vai trò đặc biệt quan trọng của việc hình thành và rèn luyện KN cho HS trong DHHH nên KN được xác định trong mục tiêu môn học, mục tiêu chương trình, mục tiêu từng chương, mục tiêu từng bài học cụ thể. Mục tiêu bao giờ cũng xác định gồm 3 thành tố: kiến thức, kĩ năng, thái độ.

Trong dạy học từng bài học, tiết học cụ thể, giáo viên phải xác định rõ những KN cụ thể HS cần đạt được. b/ Các kĩ năng thí nghiệm có vai trò quan trọng đối với người giáo viên trong DHHH thể hiện ở một số điểm sau: - Có kĩ năng tốt sẽ giúp GV thực hiện thành công các thí nghiệm và sử dụng có hiệu quả phương tiện thiết bị dạy học. - Có kĩ năng tốt GV sẽ khai thác có hiệu quả hơn những thiết bị đã được trang bị; khắc phục sửa chữa những hỏng hóc, thay thế những chi tiết cần thay. Nhờ vậy kéo dài thời gian sử dụng, nâng cao hiệu quả giáo dục và kinh tế của thiết bị.

GV có thể cải tiến để thực hiện thí nghiệm đơn giản hơn, bảo đảm thành công. - Có kĩ năng tốt GV sẽ tự tin trong việc sử dụng TNHH để dạy học, tránh được cách dạy chay khô khan. GVsử dụng TNHH quen, thành nhu cầu không thể thiếu sẽ tạo điều kiện để GV áp dụng những phương pháp tích cực trong dạy học. Nắm vững KN giúp GV thực hiện các thí nghiệm kết quả tốt, nhanh, sử dụng có hiệu quả trong dạy học sẽ tiết kiệm được thời gian, công sức.

- Kĩ năng tốt của GV sẽ là hình mẫu chuẩn mực cho HS noi theo, học tập, bắt chước để hình thành những KN thí nghiệm. Một số kĩ năng thí nghiệm hoá học cần rèn luyện của giáo viên [56] 1. Kĩ năng làm việc với một số dụng cụ thí nghiệm www.com * Dụng cụ TNHH rất đa dạng, nhiều chủng loại, thường dựa vào vật liệu chế tạo, người ta chia thành các loại, theo danh mục thiết bị dạy học gồm: dụng cụ thuỷ tinh, dụng cụ chế tạo từ kim loại và các loại dụng cụ khác… * Một số điểm chung khi sử dụng dụng cụ thí nghiệm: - GV phải nhớ đúng tên, biết tính năng, tác dụng của từng loại dụng cụ. - Dùng dụng cụ đúng mục đích, chủng loại.

- Dụng cụ thí nghiệm trong PTN phải luôn sạch sẽ, bảo quản, bảo dưỡng thường xuyên, đúng qui cách với từng loại. - Khi làm thí nghiệm trong PTN thường dùng phối hợp các loại dụng cụ, phải kết hợp một cách hợp lí, hài hoà giữa các dụng cụ. Kĩ năng làm việc với hoá chất * Hoá chất trong PTN phổ thông đa số là những hoá chất thông dụng được chế tạo theo tiêu chuẩn dùng cho PTN, khá đa dạng về chủng loại. * Khi sử dụng và bảo quản hoá chất cần chú ý một số điểm chung sau: - Lọ hoá chất phải có nhãn mác rõ ràng.

Nhãn lọ hoá chất thường ghi tên hoá chất, CTHH, khối lượng hoặc thể tích, nồng độ (nếu là dung dịch), nơi sản xuất. Lọ hoá chất không có nhãn mác không được dùng. - Bảo quản hoá chất phải sắp xếp theo khu vực cho từng loại (chất rắn, chất lỏng, axit, bazơ, muối…) và thực hiện đúng qui định đối với từng loại, đặc biệt với các hoá chất độc, dễ gây cháy nổ, các chất cần chế độ bảo quản riêng. - Sử dụng hoá chất phải tiết kiệm hoá chất (làm với lượng nhỏ hoá chất), đọc kĩ nhãn mác, lấy đúng loại hoá chất cần dùng và thực hiện “3Đ” – 3 đúng (đúng loại, đúng lượng, đúng cách) 1.

Kĩ năng pha chế dung dịch Hoá chất được trang bị theo danh mục thiết bị dạy học đến các trường phổ thông phần lớn ở dạng khan, tinh thể nguyên chất hoặc dung dịch đặc. Vì vậy muốn sử dụng hoá chất để dạy học, GV và cán bộ thiết bị cần phải biết pha chế một số dung dịch đơn giản (như dd phenolphtalein, dd quì tím, nước vôi…), nắm được các kĩ năng hoà tan, lọc tách, kết tinh… cần thực hiện trong quá trình pha chế. Một số kĩ năng thí nghiệm hoá học cần rèn luyện cho học sinh [56] 1. Kĩ năng thực hiện an toàn và khoa học các nội qui, qui tắc thí nghiệm: HS phải nắm kĩ các nội qui của PTN, các qui tắc cơ bản trong thí nghiệm để đảm bảo an toàn khi làm www.com thí nghiệm.

Do đó cần rèn luyện cho HS đức tính cẩn thận, nghiêm túc và có trách nhiệm khi tiến hành thí nghiệm. Chẳng hạn, khi làm việc với các dụng cụ thuỷ tinh dễ vỡ, làm việc với các hoá chất độc hại, dễ cháy, nổ, phát nhiệt…HS phải hết sức cẩn thận, biết cách xử lí khi xảy ra sự cố khi tiến hành thí nghiệm. Kĩ năng sử dụng một số dụng cụ thí nghiệm đơn giản: đèn cồn, cặp gỗ, giá sắt, ống nghiệm, ống đong, bình tam giác, bình cầu, phễu chiết, bình kíp, khí kế, chậu thuỷ tinh, các loại cân,…Đối với những dụng cụ đơn giản và thường dùng trong thí nghiệm, HS phải biết cách sử dụng và bảo quản để kết quả thí nghiệm cao và bảo đảm an toàn trong thí nghiệm. Sau đây là một số chú ý cho HS khi sử dụng các dụng cụ trên.

* Đèn cồn: - Không để cồn trong đèn khô kiệt, nếu đang đun phải tắt đèn rồi mới đổ thêm. - Không đổ cồn quá đầy, châm lửa từ đèn này sang đèn kia (vì dễ làm đổ cồn ra ngoài và bốc cháy). - Khi muốn tắt đèn cồn, không được dùng miệng thổi hay dùng tay quạt mà phải dùng nắp đèn cồn chụp lên ngọn lửa. * Ống nghiệm: - Khi dùng ống nghiệm phải rửa ống nghiệm sạch sẽ, để khô ráo để không gây ảnh hưởng đến kết quả thí nghiệm.

- Khi đun nóng ống nghiệm phải hơ nóng đều ống nghiệm trước rồi mới đun tập trung phần đáy ống nghiệm. Khi ống nghiệm còn nóng không được để ống nghiệm vào chậu nước hay là giá để bằng nhựa… - Khi thực hiện thí nghiệm trên giá, tùy vào thí nghiệm cụ thể mà lắp ống nghiệm thẳng đứng, hay nghiêng miệng hướng xuống dưới hay hướng lên trên. - Khi rửa ống nghiệm phải dùng cọ vừa với từng loại ống nghiệm, xoay tròn cọ theo thành ống nghiệm. Tùy vào loại hóa chất chứa trong ống nghiệm mà việc rửa ống nghiệm có thể dùng đến một số hóa chất khác… - Khi dùng cặp gỗ kẹp ống nghiệm là phải đưa cặp gỗ từ dưới đáy ống nghiệm lên đến 2/3 ống nghiệm.

Khi tháo cặp gỗ ra thì làm ngược lại.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ