MỞ ĐẦU 8. Một số thuật ngữ chuyên ngành có liên quan đến đề tài Ngành: Là một bộ phận sản xuất khác với bộ phận khác bởi đối tượng, công cụ lao động, quy trình kỹ thuật, tổ chức lao động và sản phẩm thực hiện. Nghề: Tên gọi một nhóm công nhân thực hiện những nhiệm vụ và công việc giống nhau nhằm thực hiện mục tiêu kiếm sống. Nghề còn là công việc chuyên làm theo sự phân công lao động trong xã hội và được xã hội chấp nhận.
Theo tính chất lao động thì nghề gồm có: - Nghề sản xuất: Là lao động tạo ra của cải vật chất cho xã hội gồm các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp và sản phẩm công nghiệp hiện đại (như các nghề điện, hàn…) - Nghề dịch vụ: Bao gồm các lao động sửa chữa và phục vụ các dịch vụ văn hoá, xã hội, kinh tế (nghề dạy học, nghề tiếp viên…) Nhóm nghề: Bao gồm nhiều nghề có đối tượng lao động gần nhau, đặc điểm chuyên môn gần giống nhau. Những nhóm nghề có đặc điểm chuyên môn gần giống nhau thì xếp vào một ngành. Biểu đồ DACUM: Là ma trận các nhiệm vụ mà công nhân thực hiện trong một nghề Công việc: Là một đơn vị lao động quan sát được mà đặc trưng là có điểm bắt đầu và điểm kết thúc trong một giới hạn thời gian và khi hoàn thành tạo ra kết quả là một sản phẩm dịch vụ hay quyết định người lao động được trả công. Một nghề có thể gồm từ 100 – 300 công việc đặc trưng.
Bước: Là một trong chuỗi hoạt động cần thiết để hoàn thành một bộ phận của công việc. Động tác: để hoàn thành một bước của công việc người học phải thực hiện từ một động tác trở lên, thường mỗi động tác gắn liền với một kỹ năng. Đơn nguyên học tập: Nội dung đào tạo của mỗi mô-đun được chia thành từng phân tố gọi là đơn nguyên học tập, mỗi đơn nguyên học tập trình bày một vấn đề chuyên biệt về kiến thức và kỹ năng của một nghề nào đó. CHÚ THÍCH (1).
Dự thảo báo cáo chính trị trình đại hội IX, Đảng Cộng sản Việt Nam, tháng 4 năm 2001. Nghị quyết Trung ương 2, khoá XIII. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Báo cáo về tình hình giáo dục, Hà nội, tháng 10,2004. Trang 10 Luan van CHƢƠNG 1 – CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.
Những khái niệm và quan điểm liên quan đến vấn đề nghiên cứu 1. Xây dựng nội dung môn học Môn học trong kế hoạch dạy học được xây dựng từ các khoa học tương ứng, môn học phản ánh một cách khách quan và có hệ thống những thành tựu khoa học mà loài người đã tích luỹ, khái quát hoá và hệ thống hoá. Môn học bao gồm những phần quy định, hướng dẫn rèn luyện kỹ năng, có những bài tập giúp học sinh nắm vững kiến thức. Nội dung môn học là toàn bộ tài liệu mà người giáo viên sử dụng cho công việc giảng dạy một môn học, nội dung môn học được chia thành 2 nhóm cơ bản - Nhóm tài liệu thuộc nội dung dạy học: gồm các tài liệu chứa đựng nội dung dạy học như giáo trình môn học, bài giảng, các mô-đun kỹ năng hành nghề, phiếu giảng dạy.
Nội dung dạy học chứa đựng các kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo về môn học đó. Nội dung dạy học trả lời cho câu hỏi “dạy cái gì?” - Nhóm tài liệu thuộc về kế hoạch dạy học: bao gồm những tài liệu hướng dẫn về phương pháp, cách thức truyền đạt nội dung dạy học nhằm đảm bảo hiệu quả cao nhất việc hình thành kiến thức trong học sinh. Các tài liệu kế hoạch dạy học gồm có kế hoạch giảng dạy, lịch trình giảng dạy, giáo án, các tài liệu hướng dẫn có tính chỉ dẫn và tính phương pháp. Kế hoạch dạy học trả lời cho câu hỏi “dạy như thế nào?” Xây dựng nội dung môn học được thực hiện qua 3 giai đoạn, trong đó giai đoạn thiết kế nội dung môn học được xem là nền tảng quan trọng nhất.
- Thiết kế nội dung (chuẩn bị) - Phương tiện hỗ trợ và phương pháp thực hiện - Kiểm tra và đánh giá (nghiệm thu) Nội dung môn học phải có các chức năng sau đây: - Chức năng thông tin: Là chức năng thông báo nội dung khoa học, nội dung tài liệu như phương pháp của bộ môn khoa học, phương pháp tư duy, phương pháp học tập bộ môn. - Chức năng hướng dẫn học tập và nghiên cứu: Cho học sinh biết mục tiêu, nội dung, hệ thống câu hỏi và bài tập, giới thiệu tài liệu đọc thêm, … điều này giúp người học có năng lực chuyển quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo, hình thành và phát triển tư duy sáng tạo. Trang 11 Luan van CHƢƠNG 1 – CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI - Chức năng giáo dục: Thể hiện ở mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo và cụ thể nhất là mục tiêu học tập, như mục tiêu hình thành con người mới xã hội chủ nghĩa phải có phẩm chất, có tri thức, có chuyên môn, có năng lực thực hành, có sức khoẻ, làm chủ được khoa học hiện đại và có ý thức phục vụ nhân dân. - Chức năng kích thích hứng thú học tập: Sử dụng hình thức để tạo cho người học cảm giác thoải mái khi sử dụng tài liệu học tập như in ấn rõ ràng, đẹp, phù hợp với tâm sinh lý học sinh.
Nội dung phải có sức thuyết phục cao, ngôn ngữ trong sáng và mang tính vừa sức. Vì tính chất quan trọng của việc xây dựng nội dung môn học nên đòi hỏi phải có những yêu cầu cơ bản sau: - Về mặt nội dung: phải đảm bảo 3 tính chất là cơ bản, hiện đại và thực tiễn. - Về mặt sư phạm: đảm bảo các nguyên tắc dạy học và chứa đầy đủ các khâu của quá trình dạy học. - Về mặt sử dụng: đảm bảo chức năng hướng dẫn và kích thích học sinh học tập, nghĩa là tài liệu phải trình bày có tính lôi cuốn học sinh như sạch đẹp, rõ ràng, hình ảnh sống động … Việc xây dựng nội dung môn học phải tuân thủ những nguyên tắc sau: - Nguyên tắc khoa học: Nội dung chương trình phải đảm bảo tính khoa học của hệ thống các kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp trong các lĩnh vực thuộc chuyên ngành điện.
- Nguyên tắc thực tiễn: Nội dung chương trình học phải đảm bảo phù hợp với các điều kiện (phương tiện, giáo viên …), bảo đảm tính khả thi của chương trình; mặt khác phải phù hợp với trình độ thực tế và dự báo phát triển của các lĩnh vực nghề nghiệp chuyên ngành điện. - Nguyên tắc vừa sức: Nội dung chương trình phải phù hợp với đối tượng tuyển sinh, với yêu cầu của mục tiêu đào tạo và các điều kiện đảm bảo. - Nguyên tắc hệ thống: Đảm bảo nội dung chương trình có cấu trúc hệ thống hợp lý. Kết hợp hài hoà logic khoa học-công nghệ với logic sư phạm.
Cần có phần hướng dẫn chương trình đào tạo. - Nguyên tắc liên thông: Nội dung chương trình cần được thiết kế bảo đảm yêu cầu liên thông nội dung đào tạo giữa các bậc học, ngành nghề đào tạo. Tóm lại, việc xây dựng nội dung môn học có ý nghĩa đặc biệt quan trọng: - Đối với một giáo viên kỹ thuật chuyên nghiệp việc xây dựng nội dung môn học sẽ giúp đào tạo sâu và phong phú nội dung môn học, bổ sung và cập nhất hoá kiến thức. - Nội dung môn học giúp cho người giáo viên tiến hành được việc giảng dạy có kế hoạch, có tổ chức.
Trang 12 Luan van CHƢƠNG 1 – CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI - Khi xây dựng nội dung môn học sẽ giúp cho giáo viên sắp xếp được trình tự nội dung, bổ sung được kiến thức mới cho môn học, hoàn thiện hơn về chuyên môn và phương pháp truyền đạt. Để thực hiện tốt những nội dung trên đây thì khi xây dựng nội dung môn học cần dựa trên 3 cơ sở là: - Mục tiêu đào tạo (mô hình và mẫu người mà nhà trường sẽ tạo ra) - Kế hoạch đào tạo (các môn học và thời gian học các môn học đó, kể cả thời gian thi cử và nghỉ hè) - Chương trình đào tạo (mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, tổ chức học tập, kiểm tra và đánh giá một chương trình đào tạo chuyên ngành) Các bước xây dựng nội dung môn học Thông thường việc xây dựng nội dung môn học được thực hiện theo 10 bước, chia làm 3 giai đoạn (giai đoạn chuẩn bị, giai đoạn thực hiện và giai đoạn đánh giá-nghiệm thu) Giai đoạn 1: Giai đoạn chuẩn bị Bước 1: Tìm hiểu đặc điểm tình hình như tìm hiểu về địa phương, về trường, về học sinh … nhằm xác định tính thực tiễn của môn học. Bước 2: Xác định mục tiêu môn học, gồm cả các mục tiêu về kiến thức, về kỹ năng hành động (kỹ năng, kỹ xảo), về tình cảm, về thái độ tư tưởng. Giai đoạn 2: Giai đoạn thực hiện: Bước 3: Phân tích nội dung: Sau khi thu thập tài liệu gồm chương trình của ngành chuyên môn, chương trình môn học của các trường, các sách chuyên môn, … người xây dựng nội dung môn học sẽ nghiên cứu toàn bộ các tài liệu, căn cứ trên các cơ sở đã xác định để lựa chọn các đơn vị giảng dạy, tuỳ theo yêu cầu mà mục tiêu đã đề ra mà người soạn sẽ định số các bài dạy lý thuyết hoặc thực hành.
Cuối cùng là chính xác hoá về số lượng và chất lượng các đơn vị giảng dạy trong toàn nội dung môn học. Bước 4: Sắp xếp trình tự các đơn vị giảng dạy: Trên cơ sở của việc phân tích nội dung môn học, người soạn sắp xếp thứ tự các đơn vị giảng dạy theo một trong 6 cơ sở sau: o Sắp xếp theo thứ tự từng nhóm động tác của nghề o Sắp xếp theo thứ tự từ đơn giản đến phức tạp, từ dễ đến khó o Sắp xếp theo cơ sở rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo cần thiết và những kỹ năng thường xuất hiện. Trang 13 Luan van CHƢƠNG 1 – CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI o Sắp xếp theo phương pháp học tập: từ toàn bộ đến từng phần và trở lại toàn bộ. o Sắp xếp theo cơ sở tâm lý: đề tài nào hấp dẫn lôi cuốn thì dạy trước hoặc để rải rác nhằm kích thích học sinh học tập.
o Sắp xếp theo thứ tự hợp lý: dựa vào kinh nghiệm của giáo viên, ví dụ để đảm bảo tính liên tục và kế thừa.