CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VĂN HÓA GIAO TIẾP TRONG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Lý luận là một hệ thống các quan điểm phản ánh thực tiễn, được thể hiện dưới dạng hệ thống những tri thức đã được khái quát, tạo ra những quan niệm tương đối hoàn chỉnh về các mối liên hệ cơ bản và các quy luật của hiện thực khách quan. Do đó, nhằm nhận diện các vấn đề lý luận về văn hóa giao tiếp trong hoạt động du lịch tại Thành phố Hồ Chí Minh, trọng tâm của chương sẽ tập trung nội dung về một số vấn đề cơ bản nhất từ góc nhìn khoa học chuyên ngành kết hợp một số khoa học liên ngành cần thiết cho định hướng chung của toàn bộ nội dung luận văn. Văn hóa, giao tiếp và văn hóa giao tiếp Văn hóa Từ trước đến nay, có rất nhiều định nghĩa bàn về văn hóa. Định nghĩa văn hóa đầu tiên được chấp nhận rộng rãi là định nghĩa do nhà nhân chủng học E.B Tylor đưa ra vào năm 1871: nghĩa “Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội”.
Trong “Tuyên bố về những chính sách văn hóa”, UNESCO (1982) xác định: “Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt, tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng. Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân. Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý.
Chính nhờ văn hóa mà chúng ta xét đoán được những giá trị và thực thi những sự lựa chọn. Chính nhờ văn hóa mà 11 con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân”. Trong Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, tác giả Trần Ngọc Thêm (2014, tr.45) cho rằng: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh (Hồ Chí Minh toàn tập, 1990), khái niệm văn hóa được hiểu theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp: Theo nghĩa rộng: “Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”.
Theo nghĩa hẹp, văn hóa là những giá trị tinh thần. Người viết: “Trong công cuộc kiến thiết nước nhà, có bốn vấn đề cần chú ý đến, cũng phải coi là quan trọng ngang nhau: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa. Nhưng văn hóa là một kiến trúc thượng tầng”. Như vậy, văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội.
Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội. Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa. Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người. Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra và được con người thừa nhận, bao gồm trong đó là Chân – Thiện – Mỹ.
Giao tiếp Trong “Giao tiếp trong kinh doanh và cuộc sống” của Đoàn Thị Hồng Vân và Kim Ngọc Đạt đã cho rằng, giao tiếp là sự trao đổi thông tin, chuyển tải ý tưởng từ người này sang người khác; giao tiếp là hoạt động xác lập và vận hành các mối quan hệ giữa người và người hoặc giữa người và các yếu tố xã hội nhằm thỏa mãn những nhu cầu nhất định. Giao tiếp là một quá trình trao đổi thông tin giữa các cá nhân thông 12 qua một hệ thống bao gồm các ký hiệu, các dấu hiệu và hành vi. Giao tiếp là hành vi và quá trình, trong đó con người tiến hành trao đổi thông tin với nhau, nhận thức, đánh giá về nhau, tác động qua lại, ảnh hưởng lẫn nhau. Theo Từ điển Tâm lý học của Vũ Dũng (2000, tr.47) đưa ra khái niệm “Giao tiếp là quá trình thiết lập và phát triển tiếp xúc giữa cá nhân, xuất phát từ nhu cầu phối hợp hoạt động.
Giao tiếp bao gồm hàng loạt các yếu tố như trao đổi thông tin, xây dựng chiến lược, hoạt động thống nhất, tri giác và tìm hiểu người khác. Giao tiếp có ba khía cạnh chính: giao lưu, tác động tương hỗ và tri giác”. Theo Từ điển tâm lý của Nguyễn Khắc Viện (1991, tr.51), “Giao tiếp là quá trình truyền đi, phát đi một thông tin từ một người hay một nhóm người cho một người hay một nhóm người khác, trong mối quan hệ tác động lẫn nhau (tương tác). Thông tin hay thông điệp được nguồn phát mã hóa, nguồn nhận phải giải mã và cả hai bên đều vận dụng một mã chung”.
Trong Giáo trình Tâm lý học đại cương, tác giả Trần Thị Minh Đức (Chủ biên) định nghĩa: “Giao tiếp là quá trình tiếp xúc giữa con người với con người nhằm mục đích nhận thức, thông qua sự trao đổi với nhau về thông tin, về cảm xúc, sự ảnh hưởng tác động qua lại lẫn nhau” (1995, tr. Như vậy, có thể thấy, có khá nhiều cách định nghĩa về khái niệm giao tiếp, các định nghĩa này đều có những điểm khác nhau nhưng đều chỉ ra những dấu hiệu cơ bản của giao tiếp, đó là: (1) Giao tiếp là một hiện tượng đặc thù của con người; (2) Giao tiếp thể hiện sự trao đổi thông tin, hiểu biết lẫn nhau, sự rung cảm và ảnh hưởng lẫn nhau; (3) Giao tiếp là cách thể hiện mối quan hệ với một hay nhiều người của xã hội; (4) Giao tiếp dựa trên cơ sở hiểu biết lẫn nhau giữa con người với con người. Từ những khái niệm trên cho thấy hiện có rất nhiều quan điểm khác nhau về giao tiếp, nhưng có thể khái quát thành khái niệm được nhiều người chấp nhận như sau: Giao tiếp là quá trình trao đổi thông tin, tình cảm, suy nghĩ; là quá trình nhận biết và tác động lẫn nhau trong quan hệ giữa người với người nhằm đạt đến một mục đích nhất định để con người đánh giá, điều chỉnh và phối hợp với nhau. Giao tiếp là một hoạt động vô cùng quan trọng đối với mỗi người nói riêng và toàn xã hội nói chung.
Giao tiếp góp phần duy trì các mối quan hệ trong xã hội. Theo 13 tác giả Nguyễn Thị Bích Thu, Chức năng của giao tiếp có thể chia thành 2 nhóm cơ bản, với những chức năng cụ thể sau (1) nhóm chức năng xã hội, bao gồm chức năng thông tin và chức năng tổ chức, phối hợp hành động, chức năng điều khiển và chức năng điều chỉnh; (2) nhóm chức năng tâm lý, bao gồm chức năng động viên, khích lệ, chức năng thiết lập, phát triển, củng cố các mối quan hệ, chức năng cân bằng cảm xúc, chức năng hình thành, phát triển tâm lý, nhân cách. Trong giao tiếp để trao đổi thông tin, tình cảm, suy nghĩ hay nhận thức và tác động lẫn nhau, chúng ta có thể sử dụng nhiều hình thức giao tiếp khác nhau. Nhưng dù sử dụng hình thức giao tiếp nào cũng cần đến phương tiện để hoàn thành quá trình giao tiếp.
Theo Nguyễn Thị Bích Thu, có thể phân chia phương tiện giao tiếp thành 2 loại là ngôn ngữ và phi ngôn ngữ. Trong đó, ngôn ngữ bao gồm hệ thống ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết. Giao tiếp bằng ngôn ngữ nói có hiệu quả hay không phụ thuộc vào những yếu tố như ngôn từ, âm điệu, giọng nói, tốc độ, cường độ nói, phong cách nói, cách truyền đạt. Ngôn ngữ viết cần được dùng khi cần có sự rõ ràng minh bạch, cần lưu giữ lâu dài làm bằng chứng, hoặc không có điều kiện sử dụng ngôn ngữ khác.
Chẳng hạn như văn bản pháp luật, biên bản, hợp đồng, hóa đơn, chứng từ, chứng nhận, thư từ, tài liệu, sách báo. Các yếu tố phi ngôn ngữ được sử dụng nhiều nhất trong giao tiếp, đồng thời là phương tiện đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình giao tiếp trực tiếp. Các yếu tố phi ngôn ngữ trong giao tiếp gồm: ánh mắt, nét mặt, nụ cười, cử chỉ, giọng nói, điệu bộ… Văn hóa giao tiếp Theo Hoàng Trọng Canh (Ch.b, 2016), văn hóa giao tiếp là một phạm trù mang tính xã hội mà yếu tố văn hóa chỉ được đề cập đến trong phạm vi giao tiếp, gắn trực tiếp với các nội dung có liên quan đến hoạt động giao tiếp. Văn hóa giao tiếp là những hiểu biết về phong tục, tập quán, chuẩn mực đạo đức, giá trị chuẩn mực chung của đời sống xã hội.
Một người có hành vi ứng xử đúng đắn trong hoạt động giao tiếp phải tuân thủ những chuẩn mực xã hội đó, hành động theo các quy ước, yêu cầu có tính đạo đức, ràng buộc về mặt tâm lý. Văn hóa giao tiếp là hạt nhân để tạo dựng nền nếp, lối sống chuẩn mực cho mỗi cá nhân, mỗi nhóm người nhất định trong xã hội. Văn hóa giao tiếp mang trong mình những giá trị văn hóa, đạo đức và thẩm mỹ phù hợp 14 với bản sắc của mỗi dân tộc, là sự kết tinh giữa nét truyền thống và các giá trị hiện đại mang tính nhân loại. Văn hóa giao tiếp là hạt nhân để tạo dựng nền nếp, lối sống chuẩn mực cho mỗi cá nhân, mỗi nhóm người nhất định trong xã hội.
Văn hóa giao tiếp mang trong mình những giá trị văn hóa, đạo đức và thẩm mỹ phù hợp với bản sắc của mỗi dân tộc, là sự kết tinh giữa nét truyền thống và các giá trị hiện đại mang tính nhân loại.