Tổng quan nghiên cứu
Trong hệ thống giáo dục tiểu học hiện đại, môn Mĩ thuật đóng vai trò cốt lõi trong việc hình thành và phát triển toàn diện bốn yếu tố Đức, Trí, Thể, Mĩ cho học sinh. Theo chương trình giáo dục phổ thông hiện hành, thời lượng môn Mĩ thuật được ấn định 35 tiết trên một năm học với thời gian từ 35 đến 40 phút cho mỗi tiết. Tuy nhiên, thực tế giảng dạy tại nhiều cơ sở giáo dục vẫn mang nặng tính áp đặt, truyền thụ một chiều, khiến hơn 60% học sinh rơi vào trạng thái tiếp thu thụ động và hạn chế năng lực sáng tạo cá nhân. Nhằm giải quyết triệt để vấn đề này, đề tài nghiên cứu tập trung vào việc hệ thống hóa và vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học tích cực vào phân môn Vẽ tranh đề tài và Thường thức Mĩ thuật.
Mục tiêu cụ thể của công trình là xây dựng quy trình giảng dạy lấy người học làm trung tâm, kích hoạt tối đa năng lực quan sát, tư duy tạo hình và khả năng biểu đạt cảm xúc thẩm mĩ cho học sinh khối 4 và khối 5. Nghiên cứu được triển khai toàn diện tại Trường Tiểu học Vĩnh Thành A, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre trong giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2019. Địa bàn nghiên cứu thuộc xã nông thôn mới có diện tích tự nhiên 1.613,64 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 1.199 ha, với hệ thống gồm 18 lớp học và 567 học sinh học tập 2 buổi trên ngày. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài được khẳng định qua việc nâng cao chất lượng tiết dạy mĩ thuật, giúp hơn 85% học sinh chủ động hoàn thành bài vẽ sáng tạo và cung cấp giải pháp sư phạm khả thi để nhân rộng cho các trường tiểu học trên toàn tỉnh Bến Tre.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý luận dạy học tích cực hiện đại và quan điểm sư phạm tiến bộ, lấy học sinh làm chủ thể trung tâm của quá trình nhận thức. Đề tài vận dụng định hướng đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục theo tinh thần Nghị quyết 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Chỉ thị số 15 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về phát huy tính tích cực, tự giác, sáng tạo của người học. Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp mô hình dạy học Mĩ thuật theo phương pháp Đan Mạch với 7 quy trình sáng tạo cốt lõi, bao gồm: vẽ cùng nhau và sáng tác câu chuyện, vẽ biểu cảm, trang trí và vẽ tranh qua âm nhạc, xây dựng cốt truyện, tạo hình 3D tiếp cận theo chủ đề, điêu khắc nghệ thuật không gian, và tạo hình con rối biểu diễn.
Hệ thống lý thuyết của đề tài xoay quanh bốn khái niệm then chốt:
- Phương pháp dạy học tích cực: Tập hợp các phương pháp, kỹ thuật sư phạm nhằm kích thích người học tích cực, chủ động tìm tòi và kiến tạo tri thức.
- Năng lực thẩm mĩ: Khả năng tiếp nhận, cảm thụ, phân tích, đánh giá cái đẹp trong tự nhiên, cuộc sống và tác phẩm nghệ thuật.
- Hợp tác nhóm nhỏ: Hình thức tổ chức dạy học phân chia lớp thành các nhóm từ 4 đến 6 học sinh để cùng thực hiện nhiệm vụ chung qua phân công trách nhiệm rõ ràng.
- Thường thức mĩ thuật: Phân môn trang bị hiểu biết cơ bản về lịch sử mĩ thuật, di sản văn hóa dân tộc và phát triển kỹ năng thuyết trình, giao tiếp nghệ thuật.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp thu thập trong suốt khóa đào tạo 2017 - 2019. Tổng thể nghiên cứu bao gồm toàn bộ 567 học sinh thuộc 18 lớp học và đội ngũ 27 giáo viên của Trường Tiểu học Vĩnh Thành A (trong đó 100% giáo viên đạt chuẩn chuyên môn và 96,3% đạt trình độ trên chuẩn với 18 cử nhân đại học và 01 thạc sĩ). Cỡ mẫu thực nghiệm được lựa chọn có chủ đích gồm 32 học sinh lớp 5/1 làm nhóm thực nghiệm và 31 học sinh lớp 5/2 làm nhóm đối chứng tương đương về điều kiện học tập.
Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu ngẫu nhiên có kiểm soát được áp dụng nhằm đảm bảo tính đại diện cho học sinh tiểu học vùng đồng bằng sông Cửu Long. Phương pháp phân tích dữ liệu kết hợp định tính (quan sát hành vi, phỏng vấn sâu mức độ yêu thích) và định lượng (thống kê kết quả đánh giá sản phẩm tạo hình, phân tích phương sai điểm số trước và sau tác động). Lý do lựa chọn cách tiếp cận hỗn hợp này là để đo lường chính xác cả sự chuyển biến về năng lực tạo hình cụ thể lẫn mức độ hưng phấn, kỹ năng mềm và thái độ tương tác thẩm mĩ của học sinh trong không gian lớp học.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Quá trình tổ chức thực nghiệm sư phạm tại Trường Tiểu học Vĩnh Thành A đã mang lại những kết quả tích cực, thể hiện qua 4 phát hiện quan trọng:
- Phát hiện thứ nhất: Vận dụng kỹ thuật trò chơi học tập như "Ai nhanh, ai khéo" hay "Ghép quy trình trang trí đầu báo tường" giúp mức độ hứng thú học tập của học sinh tăng vọt. Tỷ lệ học sinh hào hứng tham gia phát biểu và thực hành đạt 87,5% ở lớp thực nghiệm, so với chỉ 45,2% tại các lớp dạy theo phương pháp truyền thụ một chiều.
- Phát hiện thứ hai: Kỹ năng tạo hình và bố cục bài vẽ của học sinh lớp thực nghiệm 5/1 có sự vượt trội rõ nét. Tỷ lệ bài vẽ đạt mức hoàn thành xuất sắc (loại A+) đạt 62,5% (20 trên 32 học sinh), tăng 34,4% so với giai đoạn trước thực nghiệm. Trong khi đó, lớp đối chứng chỉ đạt tỷ lệ xuất sắc 32,3% (10 trên 31 học sinh).
- Phát hiện thứ ba: Hình thức dạy học hợp tác nhóm nhỏ giúp giảm thiểu tối đa hiện tượng học sinh lúng túng hoặc bỏ dở bài tập. Tỷ lệ học sinh cần giáo viên can thiệp trực tiếp giảm từ 65,6% xuống còn 12,5%, khẳng định tinh thần tự giác và năng lực hỗ trợ đồng đẳng giữa các thành viên trong nhóm.
- Phát hiện thứ tư: Phương pháp đóng vai trong các chủ đề như "Ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11" hay "Lễ hội mùa xuân" giúp 90,6% học sinh tự tin trình bày ý tưởng thẩm mĩ và biểu đạt trọn vẹn cảm xúc nhân văn trước tập thể lớp.
Thảo luận kết quả
Sự vượt trội của nhóm thực nghiệm bắt nguồn từ việc giáo viên chuyển đổi vai trò từ người truyền thụ kiến thức thuần túy sang người thiết kế, tổ chức và định hướng hoạt động học tập. Tâm sinh lý học sinh lứa tuổi 9 đến 11 tuổi (lớp 4 và 5) có sự phát triển mạnh mẽ về trí tưởng tượng, năng lực quan sát hiện thực và mong muốn khẳng định cá tính sáng tạo. Khi được giải phóng khỏi các khuôn mẫu cứng nhắc của sách giáo khoa truyền thống, học sinh tự do khai thác các chất liệu tạo hình sẵn có tại địa phương Chợ Lách như vỏ sò, lá cây khô, hạt hoa kiểng, xơ dừa và đất sét để hoàn thiện tác phẩm.
Dữ liệu nghiên cứu thực nghiệm có thể được mô tả trực quan thông qua biểu đồ cột so sánh kết quả học tập giữa lớp thực nghiệm 5/1 và lớp đối chứng 5/2. Trục tung thể hiện tỷ lệ phần trăm phân loại bài vẽ (Hoàn thành tốt, Hoàn thành, Chưa hoàn thành) và trục hoành biểu thị các mốc đánh giá định kỳ qua 35 tiết học. Bảng tổng hợp đối sánh cũng chỉ ra rằng mức độ tự tin thuyết trình của học sinh thực nghiệm đạt điểm trung bình 8,8 trên 10, cao hơn đáng kể so với mức 5,9 của lớp đối chứng. Kết quả này tương đồng với các công bố khoa học trong khuôn khổ Dự án Hỗ trợ Giáo dục Mĩ thuật Tiểu học (SEMP) do Đan Mạch tài trợ, đồng thời chứng minh tính tương thích cao khi áp dụng phương pháp dạy học tích cực tại các trường tiểu học nông thôn.
Đề xuất và khuyến nghị
Nhằm phát huy bền vững hiệu quả giảng dạy môn Mĩ thuật, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp cụ thể:
- Thứ nhất, thiết kế lại cấu trúc bài học tích hợp linh hoạt 100% các phương pháp dạy học tích cực (trò chơi mở đầu, sắm vai tình huống, thảo luận nhóm) vào 35 tiết học hàng năm. Giáo viên bộ môn Mĩ thuật cần đóng vai trò chủ trì, hoàn thành việc xây dựng giáo án tích hợp trong khung thời gian 3 tháng đầu năm học, phấn đấu đạt mục tiêu 100% tiết học diễn ra sôi nổi, không còn tình trạng giảng chay.
- Thứ hai, cải tạo cơ sở vật chất và kiến tạo góc không gian nghệ thuật mở tại từng lớp học. Ban Giám hiệu nhà trường phối hợp cùng Ban đại diện cha mẹ học sinh đầu tư trang thiết bị trực quan, giá vẽ di động và tận dụng 43,4% diện tích sân bãi của trường để tổ chức các tiết vẽ ngoài trời, hoàn thành trong vòng 6 tháng.
- Thứ three, phát động phong trào sưu tầm và tái chế các vật liệu thiên nhiên sẵn có tại huyện Chợ Lách (vỏ hạt giống, xơ dừa, đất phù sa, giấy báo cũ) để phục vụ cho các bài tạo hình không gian 3D. Chỉ tiêu đặt ra là mỗi học sinh tự chuẩn bị ít nhất 3 nguồn vật liệu thay thế cho màu vẽ thông thường trước mỗi học kỳ.
- Thứ tư, Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Chợ Lách cùng Tổ chuyên môn Mĩ thuật cần tổ chức định kỳ 2 đợt sinh hoạt chuyên đề cấp huyện mỗi năm học. Hoạt động này nhằm bồi dưỡng kỹ năng sư phạm tích cực cho toàn bộ 100% giáo viên mĩ thuật trên địa bàn, đồng thời xây dựng ngân hàng ngữ liệu bài giảng điện tử dùng chung trong thời hạn 1 năm.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng sau:
- Giáo viên dạy Mĩ thuật tại các trường tiểu học: Nắm bắt phương pháp thiết kế trò chơi học tập, kỹ thuật phân nhóm ngẫu nhiên và cách thức điều hành 7 quy trình mĩ thuật Đan Mạch để áp dụng trực tiếp vào 35 tiết giảng dạy chính khóa hàng tuần.
- Cán bộ quản lý giáo dục và Ban Giám hiệu trường tiểu học: Sử dụng số liệu thực nghiệm và khung đánh giá chất lượng tiết dạy làm căn cứ chỉ đạo đổi mới phương pháp giảng dạy, bố trí kinh phí và tối ưu hóa diện tích khuôn viên trường học phục vụ hoạt động nghệ thuật.
- Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Sư phạm Nghệ thuật: Tiếp cận một công trình nghiên cứu ứng dụng có phương pháp luận chặt chẽ, hệ thống số liệu khảo sát từ 18 lớp học và quy trình thực nghiệm sư phạm mẫu để phục vụ việc viết khóa luận, luận văn thạc sĩ.
- Chuyên viên phụ trách khối tiểu học tại các Phòng và Sở Giáo dục và Đào tạo: Tham khảo mô hình can thiệp sư phạm tại Trường Tiểu học Vĩnh Thành A để làm bài học kinh nghiệm trong việc xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn cho hơn 20 trường tiểu học trên địa bàn toàn tỉnh.
Câu hỏi thường gặp
-
Làm thế nào để áp dụng phương pháp dạy học tích cực khi thời lượng môn Mĩ thuật chỉ có 35 phút mỗi tiết? Giáo viên cần tinh gọn phần truyền thụ lý thuyết xuống dưới 7 phút, sử dụng trò chơi khởi động ngắn từ 3 đến 5 phút để tạo tâm thế hứng khởi, sau đó dành trọn vẹn 20 đến 25 phút cho học sinh thực hành nhóm hoặc cá nhân, kết thúc bằng 5 phút nhận xét nhanh.
-
Việc tổ chức thảo luận nhóm trong giờ Mĩ thuật có gây mất trật tự và ảnh hưởng đến các lớp học xung quanh không? Khi giáo viên giao nhiệm vụ rõ ràng, quy định thời gian cụ thể và phân công vai trò rành mạch cho từng học sinh, không khí lớp học sẽ chuyển thành sự tương tác tích cực. Thực nghiệm tại 18 lớp học cho thấy tiếng ồn mang tính trao đổi học thuật và hoàn toàn nằm trong tầm kiểm soát của giáo viên.
-
Trường học vùng nông thôn thiếu phòng chức năng chuyên biệt có thể thực hiện thành công phương pháp này không? Hoàn toàn có thể thực hiện hiệu quả bằng cách kê lại bàn ghế thành từng cụm 4 đến 6 học sinh ngay tại lớp học truyền thống, kết hợp tận dụng sân trường và các nguồn vật liệu địa phương giá rẻ như lá cây, xơ dừa, bìa carton tái chế.
-
Đánh giá sản phẩm mĩ thuật theo phương pháp tích cực khác gì so với phương pháp truyền thống? Phương pháp tích cực đánh giá dựa trên sự tiến bộ, ý tưởng sáng tạo độc đáo và năng lực biểu đạt cảm xúc thẩm mĩ của học sinh, thay vì chỉ chấm điểm dựa trên độ chính xác của đường nét hoặc mức độ giống mẫu thực tế.
-
Phương pháp dạy học Mĩ thuật Đan Mạch có làm quá tải chương trình học của học sinh lớp 4 và lớp 5 không? Quy trình Đan Mạch được tích hợp linh hoạt theo từng chủ đề kéo dài từ 2 đến 4 tiết, giúp giảm bớt số lượng bài tập đơn lẻ, tạo điều kiện cho hơn 90% học sinh hoàn thành sản phẩm có chiều sâu mà không gặp áp lực quá tải.
Kết luận
- Luận văn đã tổng kết toàn diện cơ sở lý luận về phương pháp dạy học tích cực và đánh giá khách quan thực trạng giảng dạy môn Mĩ thuật tại Trường Tiểu học Vĩnh Thành A với quy mô 567 học sinh.
- Công trình đã thiết kế và thử nghiệm thành công hệ thống các giải pháp sư phạm đột phá gồm kỹ thuật trò chơi, phương pháp đóng vai và mô hình dạy học hợp tác nhóm nhỏ cho học sinh khối 4 và khối 5.
- Kết quả thực nghiệm tại lớp 5/1 khẳng định tính ưu việt của phương pháp mới khi nâng tỷ lệ bài vẽ đạt loại hoàn thành tốt lên mức 62,5%, đồng thời giảm 53,1% tỷ lệ học sinh tiếp thu thụ động.
- Lộ trình tiếp theo đòi hỏi ngành giáo dục địa phương tiếp tục hoàn thiện cơ sở vật chất, bồi dưỡng định kỳ cho 100% giáo viên mĩ thuật và chuẩn hóa ngân hàng học liệu trong giai đoạn 2019 - 2021.
- Các cơ sở giáo dục tiểu học cần nhanh chóng triển khai đồng bộ phương pháp dạy học tích cực môn Mĩ thuật để đánh thức tiềm năng sáng tạo và ươm mầm thẩm mĩ cho thế hệ học sinh tương lai.