MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài 1. Đọc hiểu và phát triển năng lực đọc hiểu của học sinh là một trong những yêu cầu cơ bản của chương trình GDPT 2018 Theo Nghị quyết 29/NQ/TW của Đảng với mục tiêu tổng quan là: “Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả” [1, tr. Vì vậy, việc triển khai dạy học các môn học nói chung, Ngữ văn nói riêng theo định hướng phát triển năng lực là một yêu cầu bức thiết.
Trong đó, mục tiêu chung của môn Ngữ văn là giúp học sinh hình thành những năng lực chung và các năng lực đặc thù như giúp học sinh phát triển năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học. Chương trình lấy việc rèn luyện các kĩ năng giao tiếp đọc, viết, nói và nghe làm trục chính xuyên suốt cả ba cấp học nhằm đáp ứng yêu cầu của chương trình theo định hướng năng lực và bảo đảm tính chỉnh thể, sự nhất quán liên tục trong tất cả các cấp học, lớp học. Như vậy, rèn luyện kĩ năng đọc cho học sinh là một trong những yêu cầu quan trọng trong nội dung chương trình GDPT 2018. Để hình thành và phát triển năng lực đọc hiểu cho học sinh đòi hỏi người giáo viên cần có nhận thức và có cách vận dụng các mô hình dạy học, các phương pháp dạy học phù hợp.2 Ý nghĩa của việc vận dụng mô hình đọc hiểu ba giai đoạn Thực trạng dạy đọc hiểu trong nhà trường hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế.
Đa số học sinh tiếp thu bài thụ động, không hứng thú trong việc đọc hiểu văn bản. Vì vậy, GV cần đổi mới phương pháp dạy học, đảm bảo HS là chủ thể tích cực của quá trình học tập. Một trong những mô hình dạy đọc hiểu quả giúp phát triển năng lực người học phải kể đến mô hình dạy đọc theo tiến trình ba giai đoạn. Đây là mô hình đọc hiểu giúp người học tham gia trực tiếp vào việc lĩnh hội văn bản.
Mô hình đọc hiểu này giúp người học cải thiện được kĩ năng đọc, tránh tình trạng học “thế bản”. Đồng thời có thể giúp người học có thể trở thành bạn đọc độc lập, phát triển năng lực tự học suốt đời đáp ứng được yêu cần đạt của chương trình 2018. Trong quá trình vận dụng mô hình này, GV khơi gợi, tạo tri thức nền, định hướng cách đọc cho học sinh qua từng giai đoạn (trước khi đọc, trong khi đọc, sau khi đọc) để học sinh có quá trình suy ngẫm, lý giải từ đó tìm hiểu 2 được ý nghĩa của văn bản, phát huy năng lực đọc của bản thân. Vì vậy, mô hình đọc hiểu theo tiến trình ba giai đoạn nếu được áp dụng hợp lí sẽ nâng cao hiệu quả việc dạy và học môn Ngữ văn làm thay đổi hoạt động dạy đọc hiểu văn bản trong nhà trường từ mô hình giảng văn truyền truyền thống sang hướng đến mô hình học sinh tìm tòi, phát triển năng lực đọc hiểu văn bản.3 Những đổi mới trong quan điểm dạy học đọc hiểu và cấu trúc SGK Ngữ văn Theo định hướng đổi mới chương trình môn Ngữ văn 2018 thì mục tiêu chính hình thành phát triển năng lực người học.
Khi dạy đọc hiểu văn bản cần xem đọc là quá trình tương tác giữa người đọc – VB, giữa người đọc – người đọc (HS, GV), là quá trình giải mã và kiến tạo nghĩa cho văn bản. Dạy đọc phải tập trung kích hoạt việc đọc tích cực, sáng tạo ở chủ thể đọc, hướng dẫn và khích lệ học sinh chủ động tự tin, phát huy vai trò “đồng sáng tạo” trong tiếp nhận tác phẩm, hứng thú tham gia kiến tạo nghĩa cho văn bản; biết so sánh đối chiếu liên hệ mở rộng, huy động vốn hiểu biết cá nhân, sử dụng trải nghiệm cuộc sống của bản thân để đọc hiểu, trải nghiệm văn học, phát hiện những giá trị đạo đức, văn hóa và triết lý nhân sinh từ đó biết vận dụng chuyển hóa thành giá trị sống khi dạy học đọc hiểu. GV chú ý giúp học sinh tự phát hiện thông điệp, ý nghĩa góp phần lắp đầy khoảng trống của văn bản. GV có những gợi ý, nhưng không lấy việc phân tích, bình giảng của mình thay thế cho những suy nghĩ của học sinh, tránh tình trạng đọc chép vã hạn chế ghi nhớ máy móc.
Sử dụng đa dạng các loại câu hỏi ở nhứng mức độ khác nhau. Ngoài ra, khi thực hiện biên soạn các bộ SGK Ngữ văn hiện hành, các tác giả đã dựa trên yêu cầu chung của chương trình 2018. Các bộ sách được thiết kế dựa trên yêu cầu cần đạt về đọc, hướng dẫn HS hoàn thành yêu cầu cần đạt mà chương trình đã đề ra, bao gồm các yêu cầu về đọc hiểu nội dung, đọc hiểu hình thức và liền hệ, so sánh, kết nối và yêu cầu đọc mở rộng. Hướng dẫn HS khám phá nội dung và hình thức của VB, qua đó, hình thành và phát triển các kĩ năng dọc theo kiểu loại VB đã được xác định trong chương trình.
Và đặc biệt các bộ sách đều thiết kế mô hình đọc hiểu theo tiến trình ba giai đoạn của tiến trình đọc trước trong và sau khi đọc. Nếu tìm hiểu được nhận thức của giáo viên và cách giáo viên vận dụng mô hình dạy đọc ba giai đoạn như thế nào sẽ giúp đề xuất được các biện pháp nâng cao hiệu quả dạy đọc văn bản trong nhà trường. 3 Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: Thực trạng vận dụng mô hình đọc hiểu ba giai đoạn ở trường THCS. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 2.1 Tình hình nghiên cứu về đọc hiểu và dạy đọc hiểu Đọc hiểu văn bản nói chung và dạy học đọc hiểu nói riêng từ lâu đã được các nhà khoa học, nhà giáo dục trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu.
Từ những năm đầu của thế kỉ XX, Pearson [24, tr.4], đã chỉ ra hoạt động đọc là một phần tất yếu của lớp học kể từ lúc có nhà trường. Tiếp đó, Edmund Burke Huey với công trình “Khía cạnh tâm lí và sư phạm của hoạt động đọc” và Edward Thorndike với bài báo “Đọc là suy luận: Nghiên cứu các lỗi khi đọc VB” có thể được coi là những người có những nỗ lực nghiên cứu đầu tiên về quá trình hiểu [25, tr51]. Ngay từ đầu, hai nhà nghiên cứu đã khởi xướng và đặt nền móng cho quan điểm đọc là quá trình kiến tạo tích cực. Với Huey, đọc chính là quá trình tạo nên ý nghĩa từ những “dấu vết” mà tác giả để lại trên VB.
Còn Thorndike cho rằng “đọc VB giống như giải quyết một vấn đề toán học. Nó bao gồm việc chọn lựa được các nhân tố đúng trong tình huống và kết nối chúng trong những mối quan hệ thích hợp, trong đó cần xác định được chính xác vai trò/tầm ảnh hưởng của từng nhân tố” [24, tr. Trong lĩnh vực khoa học giáo dục, làn sóng về đọc hiểu thu hút sự quan tâm lớn lao của các nhà sư phạm khi nhận thức được một trong những nội dung quan trọng của nghiên cứu đọc hiểu là cần tiếp tục nhấn mạnh và áp dụng vào thực tiễn. Việc đưa nội dung đọc hiểu vào nhà trường được triển khai sâu rộng ở Mĩ.
Hàng loạt các công trình khảo sát của Ban nghiên cứu quốc gia về việc đọc vào năm 1997 (National Reading Panel) và những bản báo cáo của họ các năm 1999, 2000, 2002, 2006,. tổng hợp hơn 1000 kết quả nghiên cứu và thực hành; các bài báo khoa học chỉ ra tình trạng khó khăn để đọc hiểu của HS cần có sự can thiệp hỗ trợ; và cú huých là chương trình “Không trẻ em nào bị bỏ lại phía sau” năm 2001 hướng đến đối tượng học sinh từ lớp 3 đến 8 do sự chỉ đạo của Tổng thống Bush: có gần 70% học sinh lớp 4 trong các khu vực trung tâm thành phố không có khả năng đọc ở mức độ cơ sở. Theo đó, các nhà trường Mĩ dạy chiến thuật đọc hiểu với sự phong phú, đa dạng của nhiều loại văn bản khác nhau. Trong bản khung chương trình của bang Massachusset năm 2001, chương trình đọc hiểu được gọi 4 là Ngôn ngữ nghệ thuật xuyên suốt từ mẫu giáo đến lớp 12, nội dung là phát triển các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết và quan sát.
Ở phần khung chương trình cũng định hướng rất rõ các bước của quá trình đọc, GV và HS cần làm gì cùng các chiến thuật được gợi ý sử dụng. Ở Hy Lạp, nhà trường dạy học đọc hiểu và một loạt chiến thuật được giới thiệu khá tỉ mỉ với ví dụ minh họa đi kèm hữu ích trong việc dạy học các văn bản văn. Ở Việt Nam, khi thế giới đã đi trên con đường nghiên cứu về lí thuyết đọc hiểu hàng thế kỉ và đạt được nhiều thành tựu to lớn thì Việt Nam mới bước những bước đi chập chững. Từ những năm 2000, thuật ngữ đọc hiểu (reading comprehension) được đưa vào trường học Việt Nam.
Đó là tư tưởng dạy học văn gắn với sự thay đổi chương trình, SGK từ tiểu học đến hết bậc phổ thông do Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai. Tư tưởng dạy văn trong nhà trường thực chất là môn học dạy cho HS đọc văn, đọc hiểu văn bản, trước hết là quan điểm của một số nhà giáo dục trực tiếp làm Tổng chủ biên, Chủ biên SGK như GS. Nguyễn Khắc Phi, GS. Trần Đình Sử.
Năm 2004, Trần Đình Sử thực hiện nghiên cứu “Đọc hiểu văn bản- một khâu đột phá trong nội dung và phương pháp dạy học hiện nay”. Tác giả nhấn mạnh rằng: “người ta hiểu môn Văn trong nhà trường là môn đọc văn. Dạy văn là dạy cho học sinh năng lực ĐH bất cứ văn bản nào của loại. Ông cho rằng đọc văn là nền tảng của học văn.
Học văn là học năng lực cảm thụ văn, tiếp nhận kiến thức văn hóa, rèn luyện năng lực biểu đạt, sáng tạo văn. Trong cách đọc văn của mình, ông hướng dẫn người đọc đặc biệt chú trọng mặt ngôn từ, bởi hình tượng văn học mọc lên từ đó. Từ âm thanh, nhạc điệu, ý nghĩa của từ ngữ, ý nghĩa các biểu tượng hình thành trong truyền thống văn hóa, cấu trúc văn bản, giọng điệu, lời văn của ai, quan hệ đối thoại trong ngữ cảnh. đều là những yếu tố cần được tìm hiểu để hiểu được bài văn.