Chương 1. Cơ sở lí luận về vận dụng lí thuyết quản lí sự thay đổi trong KTĐG kết quả học tập của học sinh THCS Chương 2. Thực trạng vận dụng lí thuyết quản lí sự thay đổi trong KTĐG kết quả học tập của học sinh các trường THCS thành phố Thái Nguyên Chương 3. Biện pháp vận dụng lí thuyết quản lí sự thay đổi trong KTĐG kết quả học tập của học sinh các trường THCS thành phố Thái Nguyên Cuối cùng là Danh mục các tài liệu tham khảo và Phần phụ lục.
5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẬN DỤNG LÝ THUYẾT QUẢN LÝ SỰ THAY ĐỔI TRONG KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề * Trên thế giới: Nghiên cứu về sự thay đổi đã được một số tác giả trên thế giới quan tâm. Từ cuối những năm 90 của thế kỷ XX, khi tìm hiểu những khó khăn trong lãnh đạo, quản lý sự thay đổi, tác giả Meyer và Allen (1997) đã nhận thấy sự cam kết chính là nguồn gốc cơ bản tâm lý ngại thay đổi và đã chỉ ra ba hình thái cơ bản của sự cam kết: Cam kết dựa trên cảm xúc, cam kết dựa trên quy phạm và cam kết dựa trên tính toán. Trên cơ sở đó các ông cho rằng: lãnh đạo, quản lý sự thay đổi chính là quá trình chuyển các thành viên từ trạng thái cam kết với mô hình hoạt động cũ sang cam kết với mô hình hoạt động mới.
Lý thuyết lãnh đạo quản lý sự thay đổi xuất hiện vào đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX do J.Kotter và một số cộng sự xây dựng trên cơ sở quan điểm: + Thực tiễn lãnh đạo, quản lý sự thay đổi đòi hỏi phải vận dụng tổng hợp các trường phái lý thuyết có liên quan khác nhau nhằm giúp cho người lãnh đạo, quản lý có tư duy, cách tiếp cận linh hoạt và rõ ràng hơn. + Môi trường lãnh đạo, quản lý sự thay đổi, đòi hỏi người lãnh đạo, quản lý phải có tầm nhìn, khả năng thích ứng và năng lực lãnh đạo, quản lý sự thay đổi. + Lý thuyết lãnh đạo, quản lý sự thay đổi là sự kết hợp chặt chẽ của ba trường phái lý thuyết: trường phái phân tích, trường phái học tập, trường phái quyền lực. Ở phương Tây và một số nước Đông Nam Châu Á, lý thuyết lãnh đạo, quản lý sự thay đổi đã và đang có giá trị lý luận và thực tiễn cao.
Trong vòng 10 năm trở lại đây nó đã trở thành tài liệu bồi dưỡng về lý thuyết và kỹ năng lãnh đạo, quản lý chính ở nhiều nước trong đó có Việt Nam cho các nhà lãnh đạo, quản lý trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, quản lý xã hội. 6 Trong cuốn “Quản lý sự thay đổi”, Nhà xuất bản Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2006, R.Heller đã nghiên cứu và chỉ ra tính cấp thiết của sự thay đổi trường học, các bước tổ chức thực hiện sự thay đổi, mô hình của trường học thành công,. * Ở Việt Nam: Sự biến động không ngừng của đời sống xã hội đã tác động và đòi hỏi sự thay đổi toàn diện trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Thực tiễn quản lý, giáo dục ở Việt Nam từ khi đất nước tiến hành sự nghiệp đổi mới đến nay cho thấy nhu cầu thay đổi của các nhà trường nói chung và sự thay đổi trong quản lý nói riêng ngày càng cấp thiết.
Những năm gần đây một số nhà nghiên cứu và làm công tác quản lý ở Việt Nam đã đề cập đến sự cần thiết phải thay đổi trong HĐDH để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn giáo dục. Một số công trình nghiên cứu về KTĐG của các chuyên gia ở Việt Nam như: Nguyễn Đức Chính (2008), Đo lường và đánh giá trong giáo dục và dạy học, tập bài giảng lưu hành nội bộ - khoa Sư phạm, Hà Nội [11]. Trần Khánh Đức (2006), Đo lường và đánh giá trong giáo dục, tập bài giảng lưu hành nội bộ - khoa Sư phạm, Hà Nội. Nguyễn Đức Chính - Đinh Thị Kim Thoa (2005), Kiểm tra - đánh giá theo mục tiêu, tập bài giảng lưu hành nội bộ - khoa Sư phạm Hà Nội [12].
Dương Thiệu Tống (2005), Trắc nghiệm và đo lường thành quả học tập, Nxb Khoa học xã hội. Nguyễn Công Khanh (2004), Đánh giá và đo lường trong giáo dục, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. Đặng Bá Lãm (2003), Kiểm tra - đánh giá trong dạy - học đại học, Nxb Giáo dục, Hà Nội. Lâm Quang Thiệp (2003), Đo lường đánh giá trong giáo dục.
Các công trình trên đã đề cập đến các khái niệm, các lí luận về KTĐG đo lường trong giáo dục nói chung cũng như việc KTĐG kết quả học tập của học sinh nói riêng. Ngoài các công trình trên trên còn có nhiều công trình dưới dạng các bài báo, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ cũng đã đề cập đến hoạt động KTĐG kết quả học tập của học sinh ở các cấp học, bậc học của các vấn đề trên bằng các cách tiếp cận khác nhau. 7 Đặc biệt là công trình Tác giả Trần Ngọc Giao và cộng sự đã xây dựng “Tài liệu tập huấn chương trình bồi dưỡng cho Hiệu trưởng trường phổ thông theo liên kết Việt Nam - Singapore” [16]. Trong tác phẩm “Quản lý sự thay đổi” (tài liệu bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục của dự án đào tạo giáo viên THCS), tác giả Đặng Xuân Hải đã nghiên cứu và làm rõ lý thuyết về quản lý sự thay đổi và cụ thể hóa các bước của quá trình quản lý sự thay đổi như sau: Bước 1: Nhận diện sự thay đổi, bước 2: Chuẩn bị sự thay đổi; bước 3: Thu thập số liệu, dữ liệu; bước 4: Tìm các yếu tố khích lệ, hỗ trợ sự thay đổi; bước 5: Xác định mục tiêu cụ thể cho các bước chỉ đạo sự thay đổi; bước 6: Xác định trọng tâm của các mục tiêu; bước 7: Xem xét các giải pháp; bước 8: Lựa chọn giải pháp; bước 9: Lập kế hoạch chỉ đạo việc thực hiện; bước 10: Đánh giá sự thay đổi; bước 11: Đảm bảo tiếp tục đổi mới [18].
Nhìn chung tất cả các công trình nêu trên đều đã đề cập đến vấn đề đổi mới KTĐG trong nhà trường phổ thông hiện nay, và đã chỉ ra được sự cần thiết cũng như những nguyên nhân ảnh hưởng đến quá trình thực hiện đổi mới KTĐG. Đồng thời cũng đã khẳng định được thay đổi nhà trường và thay đổi KTĐG, đó là điều tất yếu trong sự phát triển của xã hội hiện nay. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu về việc vận dụng lý thuyết quản lý sự thay đổi trong KTĐG kết quả học tập của học sinh các trường THCS thành phố Thái Nguyên. Một số khái niệm công cụ của đề tài 1.
Quản lý Quản lý là một quá trình không thể thiếu được trong đời sống và sự phát triển của xã hội. Thích ứng với lực lượng sản xuất nhất định thì có quan hệ sản xuất phù hợp để thúc đẩy xã hội phát triển, đồng thời hình thức quản lý cũng phải thay đổi theo để phù hợp với hình thái kinh tế - xã hội. Theo quan điểm kinh tế học, nhà kinh tế người Mỹ - Frederiwilliam Taylor (1856- 1915) cho rằng: “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng chính xác cái nào cần làm và cái đó làm thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ tiền nhất” Fayel: "Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát. Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát ấy”.
8 Hard Koont: "Quản lý là xây dựng và duy trì một môi trường tốt giúp con người hoàn thành một cách hiệu quả mục tiêu đã định". Peter F Druker: "Suy cho cùng, quản lý là thực tiễn. Bản chất của nó không nằm ở nhận thức mà là ở hành động; kiểm chứng nó không nằm ở sự logic mà ở thành quả; quyền uy duy nhất của nó là thành tích". Theo từ điển Tiếng Việt: “QL là chức năng hoạt động của hệ thống có tổ chức thuộc các giới hạn khác nhau (xã hội, sinh học, kỹ thuật) bảo đảm giữ gìn một cơ cấu ổn định nhất định, duy trì sự hoạt động tối ưu và bảo đảm thực hiện những chương trình và mục tiêu của hệ thống đó”.
Theo quan điểm của một số nhà nghiên cứu ở Việt Nam: + Theo quan niệm của tác giả Trần Kiểm: “QL là những tác động của chủ thể QL trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [20]. + Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc quan niệm: “QL là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được nhiều mục tiêu nhất định. Quá trình tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý được thể hiện ở sơ đồ 1.1 Công cụ QL Khách thể và đối Chủ thể QL Mục tiêu QL tượng QL Phương pháp QL Sơ đồ 1. Mô hình quản lý 9 Theo mô hình quản lý trên, quản lý bao gồm 3 yếu tố: Chủ thể quản lý, khách thể quản lý, mục tiêu quản lý.
Ba yếu tố này luôn gắn bó hữu cơ với nhau, chủ thể quản lý có thể là một hoặc nhiều người, khách thể quản lý có thể là cá nhân hoặc tập thể, được thể hiện với những dấu hiệu sau: + Hoạt động QL được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội. + Hoạt động quản lý là những tác động có định hướng. + Hoạt động quản lý là những tác động phối hợp nỗ lực của cá nhân nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức. Thay đổi và sự thay đổi Theo Từ điển Tiếng Việt: “Thay đổi là thay cái này bằng cái khác hay là sự đổi khác, trở nên khác trước”.
Theo quan điểm Triết học, thay đổi có thể được hiểu là “quá trình vận động phát triển của sự vật, hiện tượng do ảnh hưởng, tác động qua lại của các yếu tố bên trong và bên ngoài”. Thay đổi có các đặc trưng sau: - Thay đổi là thuộc tính chung của bất kì sự vật, hiện tượng nào. - Xét về bản chất, thay đổi bao hàm cả sự biến đổi về lượng, về chất và cơ cấu của các sự vật hiện tượng, v.v… - Sự thay đổi là dòng chảy liên tục theo thời gian và phức tạp.