CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐÌNH CÔNG Trong nhiều năm qua, BLLĐ liên tục sửa đổi bổ sung vào các năm (2002), (2006), (2007), (2012) với mục đích là ngăn ngừa và hạn chế hậu quả của các cuộc ĐC cũng như thúc đẩy và tạo những nền tảng cơ bản về quyền và nghĩa vụ của các bên khi tham gia vào QHLĐ để từng bước hướng các quan hệ này vào quỹ đạo chế tài từ luật. Tuy nhiên, quá trình xây dựng và hoàn thiện QHLĐ cũng đang gặp phải những khó khăn và thách thức lớn. Trong chương này, luận án giới thiệu, hệ thống hoá các khái niệm về LĐ, ĐC cũng như những đặc trưng, tương tác của các chủ thể trong QHLĐ; lược khảo các nghiên cứu liên quan về ĐC và QHLĐ của các học giả ở Việt Nam và Thế giới để làm cơ sở nghiên cứu và vận dụng trong quản lý, điều hành thị trường LĐ trong thời kỳ mới; cuối cùng là tóm tắt các mô hình quản lý QHLĐ và bài học kinh nghiệm trong phòng ngừa và hạn chế ĐC ở một số Quốc gia. Trên cơ sở phân tích, tổng hợp các nghiên cứu về ĐC và QHLĐ, tác giả tìm ra khoảng trống nghiên cứu cho luận án.1 Các khái niệm, đặc điểm đình công và các vấn đề liên quan 1.1 Các khái niệm Đình công không phải là khái niẹm mới, mà có từ khá sớm.
Vào ngày 14/11/1152 truớc Công nguyên, thời Vua Pharaoh Ramses Ai cạp cổ đại, những nguời công nhân làm viẹc ở nghĩa trang Hoàng gia tại Deir el-Medina đã tổ chức cuọc ĐC đuợc ghi nhạn là lần đầu tiên trong lịch sử loài nguời. Sự kiẹn này đã đuợc các sử gia ghi chép lại và luu trữ tại Turin, Italia. Mexico đuợc xem là quốc gia đầu tiên trên thế giới công nhạn quyền ĐC trong hiến pháp vào nam 1917 [125]. Đình công là quyền cơ bản của con người, của NLĐ, được thừa nhận từ lâu trong các văn bản pháp lý của Liên hợp quốc, Tổ chức lao động quốc tế (ILO), các nước trên thế giới và Việt Nam.
Việc quy định quyền ĐC là một tiến bộ của BLLĐ, cụ thể hóa hiến pháp, phù hợp với bối cảnh kinh tế thị trường, bảo đảm để NLĐ có thêm điều kiện tự bảo vệ các quyền và lợi ích của mình. Theo Điều 209, BLLĐ (2012) quy định “(1) ĐC là sự ngừng việc tạm thời, tự nguyện và có tổ chức của TTLĐ nhằm đạt được yêu cầu trong quá trình giải quyết 6 TCLĐ. (2) Việc ĐC chỉ được tiến hành đối với các TCLĐTT về lợi ích và sau thời hạn quy định tại khoản 3 Điều 206 của Bộ luật này”. Khoản 3 điều 206 quy định: “Sau thời hạn 05 ngày, kể từ ngày Hội đồng trọng tài LĐ lập biên bản hòa giải thành mà một trong các bên không thực hiện thỏa thuận đã đạt được thì TTLĐ có quyền tiến hành các thủ tục để ĐC.
Trong trường hợp Hội đồng trọng tài LĐ lập biên bản hòa giải không thành thì sau thời hạn 03 ngày, TTLĐ có quyền tiến hành các thủ tục để ĐC”. Quy định trên đã nêu được những khía cạnh căn bản của ĐC: (1) ĐC là sự ngừng việc tạm thời; (2) ĐC có tính tự nguyện và có tổ chức của TTLĐ; (3) ĐC nhằm mục đích là đạt được yêu cầu trong quá trình giải quyết TCLĐ. Đồng thời, quy định rõ ĐC được thực hiện sau thời hạn nhất định khi giải quyết TCLĐTT về lợi ích. BLLĐ (2012) cũng giải thích cụ thể các vấn đề liên quan ĐC trong Điều 3 như: Người lao động: “là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng LĐ, làm việc theo HĐLĐ, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của NSDLĐ”.
Người sử dụng lao động “là DN, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê mướn, sử dụng LĐ theo HĐLĐ; nếu là cá nhân thì phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ”. Tập thể lao động “là tập hợp có tổ chức của NLĐ cùng làm việc cho một NSDLĐ hoặc trong một bộ phận thuộc cơ cấu tổ chức của NSDLĐ”. Tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở “là Ban chấp hành CĐCS hoặc Ban chấp hành CĐ cấp trên trực tiếp cơ sở ở nơi chưa thành lập CĐCS”. Tổ chức đại diện người sử dụng lao động “là tổ chức được thành lập hợp pháp, đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của NSDLĐ trong QHLĐ”.
Tranh chấp lao động “là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ và lợi ích phát sinh giữa các bên trong QHLĐ. Tranh chấp LĐ bao gồm tranh chấp LĐ cá nhân giữa NLĐ với NSDLĐ và TCLĐTT giữa TTLĐ với NSDLĐ”. Tranh chấp lao động tập thể về quyền “là tranh chấp giữa TTLĐ với NSDLĐ phát sinh từ việc giải thích và thực hiện khác nhau quy định của pháp luật về LĐ, TƯLĐTT, nội quy LĐ, quy chế và thoả thuận hợp pháp khác”. Tranh chấp lao động tập thể về lợi ích “là tranh chấp LĐ phát sinh từ việc TTLĐ yêu cầu xác lập các điều kiện LĐ mới so với quy định của pháp luật về LĐ, TƯLĐTT, nội quy LĐ hoặc các quy chế, thoả thuận hợp pháp khác trong quá trình TL giữa TTLĐ với NSDLĐ.
Trong luận án này, tác giả dùng từ TCLĐTT là để chỉ TCLĐTT nói chung cho cả tranh chấp về quyền và tranh chấp về lợi ích”. 7 Theo quan điểm của ILO: “ĐC là một trong những biện pháp thiết yếu mà NLĐ và các tổ chức của họ có thể sử dụng để xúc tiến và bảo vệ các lợi ích kinh tế xã hội của mình, không chỉ nhằm đạt tới những điều kiện làm việc tốt hơn hoặc có những yêu cầu tập thể mang tính nghề nghiệp, mà còn nhằm tìm ra những giải pháp cho các vấn đề chính sách kinh tế - xã hội và các vấn đề LĐ bất kỳ loại nào mà NLĐ trực tiếp quan tâm” [20]. Ở Italia, định nghĩa ĐC là bao gồm tất cả những đình trệ trong công việc diễn ra trong một khoảng thời gian bất kỳ, ngay cả khi chỉ là trong một tiếng đồng hồ [155]. Ở các quốc gia việc thừa nhận ĐC của NLĐ có thể quy định trong Hiến pháp (Công hòa liên bang Đức, Pháp) hoặc trong BLLĐ như Liên bang Nga, Philippin, Thái Lan.
Luật LĐ 1981 của Nauy: “ĐC là việc NLĐ ngừng việc toàn bộ hay một phần công việc một cách kết hợp hay đồng thời nhằm ép buộc giải quyết TC giữa CĐ với NSDLĐ hay với tổ chức của NSDLĐ; bất kỳ hành động ngăn chặn DN liên quan đến LĐ do ĐC sẽ được coi là một phần của cuộc ĐC” [15]. Theo CIRD, BLĐTBXH, “ĐC là một sự ngừng việc tạm thời có dự tính hoặc sự bỏ việc của một nhóm công nhân trong một DN hoặc một vài DN để biểu thị một mối quan tâm hoặc gây áp lực bắt DN thực hiện các đòi hỏi về tiền lương, giờ làm việc và điều kiện LĐ”. Các vụ ĐC được đặc trưng bởi các mức độ khác nhau về hình thức và cách thức tổ chức, về mức độ tham gia và khởi xướng của CĐ hoặc các nhóm công nhân. Chúng cũng khác nhau về thời gian và ý nghĩa từ những cuộc biểu tình ngắn nhằm mục đích thương lượng cho tới đấu tranh LĐ và chính trị lâu dài.
Những người tham gia ĐC vẫn cho rằng họ là những NLĐ của DN với quyền được trở lại làm việc khi vụ việc tranh chấp được giải quyết [20]. Phan biẹt đình cong với lãn cong: hiẹn có hai quan điểm: (i) Quan điểm thứ nhất cho rằng, lãn cong (nguời lao đọng khong rời khỏi noi làm viẹc nhung khong làm viẹc hoạc làm viẹc cầm chừng, lo là, “luời biếng”) là biểu hiẹn ra ben ngoài của ngừng viẹc tạp thể, ĐC. Trong truờng hợp này nguời ta xem lãn cong cũng là mọt biểu hiẹn của ĐC. Ví dụ, pháp luạt của mọt số nuớc nhu Philippines ghi nhạn: ĐC khong chỉ bao gồm sự ngừng làm viẹc có phối hợp mà gồm cả lãn cong, nghỉ viẹc hàng loạt, bãi cong ngồi, có ý đồ hủy hoại hoạc tieu hủy, phá hủy thiết bị, co sở kinh doanh và các hoạt đọng tuong tự (Điều 226a BLLĐ Philippines); (ii) Quan điểm thứ hai cho rằng, lãn cong khong phải là ĐC vì nó là sự ngừng viẹc khong hoàn toàn, khong triẹt để của mọt số NLĐ nhằm phản đối NSDLĐ khi thực hiẹn các điều khoản của HĐLĐ hay TULĐTT.
Nó khong làm ngừng hẳn hoạt đọng lao đọng mà chỉ là khong tuan thủ nghĩa vụ lao đọng, và nhu vạy là hành 8 vi vi phạm kỷ luạt lao đọng (ví dụ nhu: Pháp, Nga, Thái Lan. Chính vì vậy, coi lãn cong khong phải là mọt dạng của ĐC là quan điểm có co sở. Bởi lẽ, lãn cong phải đuợc coi là viẹc NLĐ khong thực hiẹn tốt nghĩa vụ LĐ, khong thực hiẹn đầy đủ nghĩa vụ LĐ đã cam kết trong HĐLĐ. Đó là hành vi vi phạm, là có lỗi trong thực hiẹn HĐLĐ đã cam kết.
Nhu vạy, ĐC là quyền của NLĐ nhung lãn cong khong phải là quyền của NLĐ. Hành vi lãn cong có thể bị xem xét kỷ luạt. Phan biẹt đình cong và bãi cong: Theo Từ điển Bách khoa Viẹt Nam: “Bãi cong kinh tế, chính trị, là sự ngừng việc từng bọ phạn hay toàn bọ quá trình sản xuất dịch vụ do tạp thể những NLĐ đồng tam, hiẹp lực cùng nhau tiến hành, là mọt biẹn pháp đấu tranh của NLĐ, vien chức chống lại chủ nhà máy, hầm mỏ, đồn điền. các nhà tu bản và chính phủ để đòi thực hiẹn những yeu sách về kinh tế, nghề nghiẹp và nhiều khi cả yeu sách chính trị”.
Theo như khái niệm này thì bãi công giống như ĐC. Tuy nhien trong nhiều truờng hợp, nguời ta thuờng coi những cuọc ĐC ở diẹn rọng, ĐC của nhiều DN, nhiều giới lao đọng trong mọt quốc gia, là bãi cong. Bãi cong có tính chất mọt ngành (nhu ngành đuờng sắt, hàng khong.) đuợc tổ chức quy mo và có sự chuẩn bị kỹ giữa các CĐ trong ngành, tạp hợp toàn bọ NLĐ trong hẹ thống ngành của quốc gia. Những cuọc bãi cong có tính toàn quốc nhằm phản đối những quyết định của Chính phủ đã ảnh huởng đến đời sống của NLĐ trong ngành, hoạc yeu sách Chính phủ cải thiẹn cuọc sống và điều kiẹn làm viẹc của NLĐ.
Bãi cong thuờng kéo dài nhiều ngày nhằm làm te liẹt các hoạt đọng thuờng ngày, và gay sức ép len Chính phủ [115]. Như vậy ĐC là quyền, là phản ứng của NLĐ thông qua hành vi ngừng việc hoàn toàn (ngừng việc triệt để). ĐC là hiện tượng phản ứng có tính tập thể được tiến hành bởi những NLĐ.