CHƯƠNG 1. Phát biểu vấn đề nghiên cứu Những ảnh hưởng tiêu cực của đại dịch Covid-19 vừa qua trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng đã làm cho hàng loạt các tổ chức, doanh nghiệp phải chuyển sang hình thức làm việc tại nhà trong một thời gian dài. Điều này đã buộc các nhà quản lý phải có những thay đổi nhanh chóng trong cách thức quản lý để doanh nghiệp tồn tại và phát triển bền vững. Trong đó không thể không kể đến Cloud-ERP, một giải pháp mang nhiều hứa hẹn sẽ giải quyết hàng loạt các vấn đề cho các doanh nghiệp, đặc biệt là tại thị trường Việt Nam với số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ đông đảo.
Đối với những doanh nghiệp có nguồn lực tài chính còn hạn chế thì ưu điểm giúp giảm thiểu chi phí đầu tư ban đầu của Cloud-ERP đang là một điểm sáng được nhiều nhà quản lý quan tâm. Trên thế giới, Cloud-ERP đã và đang được ứng dụng trong các tổ chức, doanh nghiệp khá phổ biến. Nhưng ở Việt Nam, Cloud-ERP vẫn chưa nhận được nhiều sự quan tâm từ cộng đồng doanh nghiệp. Theo Nguyễn Thị Huyền Trang và Nguyễn Duy Thanh (2014), chỉ có khoảng 1,1% doanh nghiệp Việt Nam sử dụng ERP.
Tuy nhiên trong những năm gần đây, nhiều doanh nghiệp đã ý thức được rằng ERP là công cụ quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh, giúp tiếp cận tốt hơn các chuẩn quốc tế. Nếu doanh nghiệp nào chậm trễ ứng dụng ERP sẽ tự gây khó khăn cho mình và tạo lợi thế cho đối thủ. Do đó, số lượng các doanh nghiệp ứng dụng ERP ở Việt Nam cũng đang tăng rõ rệt. ERP mang lại nhiều lợi ích cho các tổ chức, doanh nghiệp nhưng cũng có nhiều khó khăn, thách thức.
Điển hình như việc để triển khai thành công dự án ERP phải mất nhiều chi phí, thời gian và nguồn lực thực hiện. Các dự án liên quan tới hệ thống thông tin cũng thường hay gặp thất bại nhiều hơn so với các dự án khác, những dự án hệ thống thông tin ở Việt Nam không đạt được thành công như mong muốn như đề án 112, dự án ERP của Tân Hiệp Phát, Hoàng Anh Gia Lai… (Nguyễn Thị Huyền Trang & Nguyễn Duy Thanh, 2014). Do đó vấn đề về sự thành công của hệ thống ERP nói chung và Cloud-ERP nói riêng vẫn luôn là mối quan tâm của nhiều tổ chức, doanh nghiệp. Vì ERP không chỉ giúp quản lý và tích hợp các quy 1 trình kinh doanh thông qua các chức năng, chia sẻ dữ liệu chung, cải thiện việc ra quyết định và hiệu suất, duy trì liên kết chuỗi cung ứng, tạo nền tảng cho thương mại điện tử, cho phép giao dịch thông tin nhanh hơn, giảm hàng tồn kho, tăng năng suất, giảm chi phí vận chuyển và hậu cần, thúc đẩy việc ra quyết định hiệu quả hơn và cuối cùng là đạt được lợi thế cạnh tranh (Calisir & Calisir, 2004; Dezdar & Ainin, 2011; Maldonado & Sierra, 2013).
Mà một hệ hoạch định nguồn lực doanh nghiệp thành công có thể giúp các doanh nghiệp tích hợp và tối ưu hóa các quy trình kinh doanh khác nhau, hợp lý hóa quản lý cơ cấu tổ chức và có thể sử dụng cho bất kỳ tổ chức nào (Costa và cộng sự, 2016; Mayeh và cộng sự, 2016). Theo Hồ Trung Thành và cộng sự (2016), sự kết hợp giữa Hệ hoạch định nguồn lực doanh nghiệp và Công nghệ Điện toán đám mây (Cloud Computing) đang là một xu hướng mới trong giới công nghệ thông tin và truyền thông. Đây là hai mảng khác nhau của hệ thống thông tin trong doanh nghiệp hiện đại, nhưng khi tích hợp những ưu điểm của ERP và những điểm vượt trội của công nghệ Điện toán đám mây không chỉ gia tăng được lợi ích cho doanh nghiệp mà còn giúp cho doanh nghiệp phát triển bền vững, trường tồn trong nền kinh tế thị trường đầy biến động hiện nay. Sự chú ý đến Cloud-ERP (ERP trên điện toán đám mây) ngày càng nhiều hơn như một cách linh hoạt để hợp lý hóa các quy trình kinh doanh cho các tổ chức và nó đã được rất nhiều người sử dụng chấp nhận (Das & Dayal, 2016; Venkatraman & Fahd, 2016).
So với ERP truyền thống, ERP trên điện toán đám mây (Cloud-ERP) có nhiều lợi thế hơn như dễ triển khai và giảm chi phí nhờ mô hình ứng dụng lưu trữ trên điện toán đám mây (Chen và cộng sự, 2015; López & Ishizaka, 2017). Với điện toán đám mây, doanh nghiệp sẽ không cần phải mua và duy trì hàng trăm, thậm chí hàng nghìn máy tính cũng như phần mềm mà đơn giản chỉ là thuê trực tuyến (Nguyen và cộng sự, 2014). Mặt khác, sự hài lòng của người sử dụng về một công nghệ luôn gắn liền với sự thành công của nghệ đó vì nó dẫn đến việc chấp nhận hoặc từ chối một công nghệ hoặc một hệ thống. Sự hài lòng của người sử dụng càng cao thì xác suất người sử dụng chấp nhận càng cao.
Do đó, trong bối cảnh của hệ thống ERP, sự hài lòng của người sử dụng là rất quan trọng vì nó tăng cường sự chấp nhận và thành công của hệ 2 thống (Kulathunga1 & Fernando, 2019). Tuy nhiên, chưa có nhiều nghiên cứu về sự hài lòng của người sử dụng Cloud-ERP, nhất là tại Việt Nam dù ngày càng có nhiều doanh nghiệp tại Việt Nam đầu tư số tiền lớn vào hệ thống Cloud-ERP của họ nhưng nhiều năm sau khi triển khai vẫn còn các vấn đề về sự hài lòng làm cản trở việc sử dụng hiệu quả, làm ảnh hưởng đến sự thành công của Cloud-ERP. Vì thế, các vấn đề về sự hài lòng của người sử dụng vẫn còn tiềm năng rất lớn để nghiên cứu. Từ những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài “Vai trò của sự hài lòng của người sử dụng trong sự thành công của hệ hoạch định nguồn lực doanh nghiệp trên điện toán đám mây” làm đề tài nghiên cứu.
Nghiên cứu tập trung làm rõ vai trò của sự hài lòng của người sử dụng, cũng như mối quan hệ giữa các yếu tố tác động đến sự hài lòng trong sự thành công của Cloud-ERP thông qua việc đề xuất mô hình nghiên cứu. Đồng thời cung cấp cơ sở khoa học tham khảo cho các nhà cung cấp Cloud-ERP và các doanh nghiệp đang và sẽ sử dụng Cloud-ERP. Mục tiêu nghiên cứu Xác định các tiền tố của sự hài lòng của người sử dụng trong sự thành công của Cloud-ERP. Đề xuất và kiểm định mối quan hệ giữa các yếu tố trong sự thành công của Cloud-ERP.
Kiến nghị các giải pháp để nâng cao sự thành công của Cloud-ERP. Câu hỏi nghiên cứu Sự hài lòng của người sử dụng trong sự thành công của Cloud-ERP có các tiền tố nào? Mối quan hệ giữa các yếu tố trong sự thành công của Cloud-ERP được thể hiện như thế nào? Làm thế nào để nâng cao sự thành công của Cloud-ERP? 1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Sự hài lòng của người sử dụng đối với Cloud-ERP. Đối tượng khảo sát: Những người đã và đang sử dụng Cloud-ERP tại các doanh nghiệp.
3 Phạm vi nghiên cứu: Khu vực Thành phố Hồ Chí Minh. Ý nghĩa nghiên cứu Về khoa học, nghiên cứu sẽ đóng góp cơ sở lý thuyết mới về sự thành công của các dự án hệ hoạch định nguồn lực doanh nghiệp trên điện toán đám mây. Về thực tiễn, nghiên cứu sẽ đưa ra một số kiến nghị giúp nâng cao sự hài lòng của người sử dụng Cloud-ERP, từ đó góp phần nâng cao sự thành công của các dự án triển khai Cloud-ERP. Các yếu tố trong nghiên cứu này cũng sẽ giúp các nhà quản lý, nhà cung cấp có thêm nguồn tham khảo khi triển trai hệ hoạch định nguồn lực doanh nghiệp trên điện toán đám mây một cách hiệu quả với khả năng thành công cao hơn.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Bối cảnh nghiên cứu 2. Cloud-ERP Thuật ngữ ERP (Enterprise Resources Planning) được giới thiệu lần đầu tiên vào năm 1990 bởi Gartner, là hệ thống thông tin tích hợp với cơ sở dữ liệu tập trung, hỗ trợ các quy trình kinh doanh chính trong tổ chức (Mijac và cộng sự, 2013). Theo Anderegg (2000), ERP là một giải pháp thương mại toàn diện và bao gồm: hệ thống ERP và các quy trình nghiệp vụ bên trong và xung quanh mỗi phân hệ.
Hệ thống ERP và quy trình nghiệp vụ phải được tích hợp để trở thành giải pháp ERP hoàn chỉnh. Hệ thống ERP bao gồm các phân hệ phần mềm như: quản lý tài chính - kế toán, quản lý nhân sự - tiền lương, quản lý sản xuất, quản lý hậu cần, quản lý dự án, dự đoán và lập kế hoạch… Hoạt động nghiệp vụ bên trong mỗi phân hệ bao gồm việc quản lý, ra quyết định, huấn luyện, tài liệu, giao tiếp, quản lý con người… Theo Mijac và cộng sự (2013) điện toán đám mây (Cloud) là các nguồn điện toán khổng lồ như phần mềm, dịch vụ… nằm tại các máy chủ ảo trên Internet thay vì trong hệ thống máy tính văn phòng để mọi người kết nối và sử dụng khi cần. Và với các dịch vụ sẵn có trên Internet, doanh nghiệp có thể truy cập đến bất kỳ tài nguyên nào của họ tồn tại trong “đám mây” tại bất kỳ thời điểm nào và từ bất kỳ nơi đâu thông qua hệ thống Internet. Nếu một hệ thống ERP được đặt vào môi trường đám mây, nó sẽ trở thành hệ thống ERP trên điện toán đám mây.
Công nghệ ảo hóa và cân bằng tải của các đám mây cho phép các ứng dụng được triển khai trên nhiều máy chủ và nguồn cơ sở dữ liệu (Raihana, 2012). Theo Salim và cộng sự (2015, tr. 220) “Cloud-ERP được định nghĩa là các gói phần mềm thương mại cho phép việc tích hợp các quy trình kinh doanh và dữ liệu giao dịch theo định hướng toàn bộ tổ chức sử dụng một mô hình cho phép phổ biến, thuận tiện, theo yêu cầu truy cập mạng trong nỗ lực quản lý”. Các loại hình dịch vụ của Cloud-ERP được thể hiện như ở Hình 2.1, trong đó có các thành phần cơ sở hạ tầng đám mây (được hiểu như IaaS), nền tảng đám mây (được hiểu như PaaS) và ứng dụng đám mây (được hiểu như SaaS).
5 Cơ sở hạ tầng Nền tảng Ứng dụng đám mây đám mây đám mây Người sử dụng – Client (Trình Người sử dụng – Client (Trình Người sử dụng – Client duyệt) duyệt) (Trình duyệt) Ứng dụng (ERP) Ứng dụng (ERP) Ứng dụng Nền tảng (Hệ điều hành – OS) Nền tảng Nền tảng Cơ sở hạ tầng đám mây (Phần cứng) Cơ sở hạ tầng đám mây Cơ sở hạ tầng đám mây (OS và phần cứng) (ERP, OS, Phần cứng) Hình 2.