đặt vấn đề vai trò ngày càng tăng của các thành phố sẽ trở thành sự thay thế đối với can thiệp của Nhà nước từ chính quyền trung ương trong chính sách văn hóa của các quốc gia [113]. Nhóm các công trình nghiên cứu về chính sách phát triển công nghiệp văn hóa và sáng tạo tại các nước được lựa chọn phân tích Nội dung chủ đạo của Công ước 2005 là vấn đề phát triển các ngành công nghiệp văn hóa. Do đó, luận án cũng tiến hành nghiên cứu các kết quả của nhóm đề tài về CNVH, CNST trong nước và quốc tế. Phát triển “công nghiệp văn hoá”, “công nghiệp nội dung”, “kinh tế sáng tạo”.
đã trở thành xu thế quan trọng trong chính sách văn hoá của nhiều quốc gia, do đó, trên thế giới, nguồn tư liệu về đề tài này khá dồi dào. Các nghiên cứu đầu tiên về tác động của chính sách đối với các ngành CNVH được thực hiện với sự bảo trợ của UNESCO vào đầu những năm 80. Trong cuốn sách Các ngành công nghiệp văn hóa: Thách thức đối với tương lai của văn hóa được UNESCO xuất bản vào năm 1982, tổng hợp các nghiên cứu được trình bày tại Hội nghị của các chuyên gia về “Vị trí và vai trò của các ngành công nghiệp văn hóa trong sự phát triển văn hóa của các xã hội” được tổ chức tại Montreal năm 1980 [137]. Đánh giá sự phát triển về công nghiệp văn hóa và sáng tạo ở cấp độ toàn cầu, 19 tiêu biểu phải kể đến Báo cáo Toàn cầu về Kinh tế sáng tạo năm 2008, 2010, năm 2013, năm 2015 [133], [134], [135], [136] do các cơ quan chuyên môn của Liên Hợp Quốc công bố, tập hợp các phát hiện có dữ liệu thực chứng từ các nghiên cứu mang tính khoa học của nhiều nhà nghiên cứu, chuyên gia uy tín.
Báo cáo Toàn cầu đầu tiên về Kinh tế sáng tạo từ khi ra đời vào năm 2008 đã trở thành chủ đề thảo luận của mạng lưới các cơ sở giáo dục đào tạo và các viện nghiên cứu trên thế giới, được nhiều trường đại học coi là nguồn tham khảo chủ yếu để xây dựng chương trình đào tạo cấp đại học và điều chỉnh giáo trình đào tạo sau đại học trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật và kinh tế sáng tạo. Các báo cáo tiếp theo tiếp tục dự báo các xu hướng thương mại trên thế giới, gợi mở về mặt chính sách và mô hình phát triển KTXH. Công trình Các ngành công nghiệp văn hóa của David Hesmondhalgh xuất bản lần đầu tiên vào năm 2002, qua các lần chỉnh sửa bổ sung (2007, 2012, 2019) và nhiều lần tái bản được coi là sách giáo khoa về CNVH, đưa vào giảng dạy và nghiên cứu tại nhiều trường Đại học danh tiếng trên thế giới. Cuốn sách kết hợp giữa phương pháp nghiên cứu văn hóa học với kinh tế chính trị, xã hội học tổ chức, nghiên cứu chính sách truyền thông, đưa ra những phân tích so sánh ở cấp độ toàn cầu để lý giải sự thay đổi trong sản xuất văn hóa từ những năm 1980 đến nay, luận giải vai trò của văn hóa và sáng tạo trong xã hội hiện đại và những thay đổi cần thiết về mặt chính sách để thích ứng với những chuyển biến của quá trình toàn cầu hóa và công nghệ [97].
Bài viết “Từ các ngành công nghiệp văn hóa đến các ngành công nghiệp sáng tạo: Lý thuyết, công nghiệp và các hàm ý chính sách” của Stuart Cunningham (2002) cung cấp lý lẽ để phân biệt giữa các khái niệm CNVH và CNST, phân tích về mặt lý thuyết, chính sách của các ngành này. Khẳng định vai trò xương sống của văn hóa và sáng tạo trong nền kinh tế tri thức, Cunningham đề xuất cơ chế chính sách quản lý và hỗ trợ các ngành này phát triển [82]. Cùng với các nghiên cứu khác của ông viết chung với Jason Potts về các ngành CNVH (2008, 2012, 2016), đây là các tài liệu quan trọng phân tích sự phát triển của các ngành CNVHST và khái quát 20 thành mô hình chính sách. Trong số các nghiên cứu học thuật mang tính lý luận về CNVHST, công trình của GS.
Justin O’Connor, Đại học Leeds, Vương quốc Anh với tên gọi Các ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo: tổng quan các công trình nghiên cứu (11/2007) đã rà soát toàn bộ quá trình phát triển lý thuyết về các ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo, lật lại lịch sử của ý tưởng “các ngành công nghiệp văn hóa” và những thay đổi, phát triển của khái niệm này về mặt học thuật cũng như chính sách trong nền kinh tế sáng tạo [118]. Các nhà nghiên cứu Katia Segers và Ellen Huijgh từ Trung tâm Xã hội học Truyền thông của Đại học Vrije, Bruxelles trong công trình nghiên cứu Làm rõ sự phức tạp và mâu thuẫn của các ngành công nghiệp văn hóa (2007) cung cấp một cách lý giải về khái niệm các ngành CNVH thông qua việc phân tích bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội mà các khái niệm này ra đời kể từ 1945 đến nay, làm rõ sự tiến hóa từ các khái niệm các ngành CNVH, các ngành CNST, kinh tế sáng tạo, các ngành kinh tế trải nghiệm, các ngành công nghiệp nội dung, các ngành công nghiệp giải trí, các ngành công nghiệp bản quyền, truyền thông. để miêu tả những ngành sản xuất nội dung mang tính biểu tượng, phân tích những đặc điểm, loại hình để làm rõ khái niệm của các ngành CNVH [128]. Nhóm tài liệu về chính sách CNVHST của các nước hết sức phong phú.
Nước Anh, nơi được coi là bệ phóng bài học thành công về phát triển các ngành CNST ra thế giới có rất nhiều tài liệu nghiên cứu về tiến trình này. Nghiên cứu của Nicolas Garnham, (2005) Từ các ngành công nghiệp văn hóa đến sáng tạo: phân tích về hàm ý đối với các tiếp cận “các ngành công nghiệp sáng tạo” với chính sách nghệ thuật và truyền thông tại Vương quốc Anh, đã phân tích hàm ý về chính sách văn hóa khi Anh chuyển đổi từ thuật ngữ các ngành CNVH sang các ngành CNST. Việc sử dụng thuật ngữ các ngành CNST gắn với các lý thuyết về xã hội thông tin, với khái niệm “đổi mới sáng tạo” và gắn với tuyên bố về vai trò của lĩnh vực văn hóa như một lĩnh vực tăng trưởng kinh tế quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu và có sự liên kết với lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Vì vậy, có đầy đủ lí lẽ để bảo vệ 21 chính sách của nhà nước trong việc cấp ngân sách tập trung vào nghệ sỹ và chuỗi cung ứng, thay vì các mục tiêu khác của chính sách văn hóa như tăng cường sự tham gia và tiếp cận của người dân [93].
Ngược lại, trong bài viết “Chính sách văn hóa trong thời đại các ngành công nghiệp sáng tạo” của Hasan Bakhshi và Stuart Cunningham do NESTA xuất bản năm 2016 lại lập luận về việc chính sách văn hóa hiện thời của Anh có sự chồng lấn với chính sách các ngành CNST do các phương pháp đo lường và thống kê, vì vậy, kêu gọi việc tái cân bằng và cần định hướng CSVH chú trọng vào các mục tiêu như giáo dục văn hóa, văn hóa với sức khỏe của người dân, tăng cường sự tham gia của người dân vào các hoạt động văn hóa để không ai bị bỏ lại phía sau [68]. Đối với các nghiên cứu về Pháp, nơi chính sách văn hóa được coi là sản phẩm phát minh của người Pháp (Jean-Michel Djian, 1996) [86], các công trình nghiên cứu của David Looseley về chính sách văn hóa và các cuộc tranh luận trong bối cảnh đương đại tại Pháp) đã cung cấp cái nhìn lịch sử về đặc trưng mô hình CSVH với sự can thiệp trực tiếp của Nhà nước nhằm thực hiện sứ mệnh văn hóa và sự tiến triển của mô hình này qua các thời kỳ Bộ trưởng Văn hóa từ việc thực hiện 03 trụ cột: bảo tồn (và đào tạo), sáng tạo (các tác phẩm mới đương đại) và dân chủ hóa văn hóa, cho đến việc tăng cường phân cấp, phi tập trung, thúc đẩy số hóa, phát triển các ngành CNVH. Đối với nghiên cứu về CSVH và các ngành CNVH của Trung Quốc, tại Việt Nam phải kể đến hàng loạt các công trình của tác giả Nguyễn Thị Thu Phương như Sức mạnh mềm văn hóa Trung quốc và tác động tới Việt Nam và một số nước Đông Nam Á (Nxb Chính trị quốc gia, 2016), Cải cách thể chế văn hóa Trung Quốc từ năm 1978 đến nay (Nxb Khoa học xã hội, 2017), bài viết “Tác động của cải cách thể chế đối với phát triển công nghiệp văn hóa Trung Quốc và một số vấn đề đặt ra cho Việt Nam” (Văn hóa học, số 2-2016) [37], [38], [39]. Đối với các học giả quốc tế, nhiều năm qua, Michael Keane nghiên cứu và xuất bản các bài viết về các ngành CNVHST tại Trung Quốc và giấc mộng Trung Hoa.
Cuốn sách Sáng tạo đỏ: Văn hóa và hiện đại tại Trung quốc do Justin O’Connor và Xin Gu đồng tác giả xuất bản 22 tại Hoa kỳ vào tháng 12/2020 đã phân tích nền kinh tế văn hóa Trung Quốc trong 20 năm qua với chiều cạnh lịch sử và đặt ra những câu hỏi về bản chất của chủ nghĩa tư bản sáng tạo cũng như điều mà phương Tây vẫn tuyên bố là hiện đại, cung cấp tư duy mới về chính sách văn hóa tại Trung Quốc, định vị Trung quốc trong nền kinh tế văn hóa toàn cầu [120]. Nhóm các công trình nghiên cứu về chính sách văn hóa và công nghiệp văn hóa tại Việt Nam Đối với Việt Nam, cơ sở định hướng và hoạch định chính sách văn hóa bao gồm các Văn kiện các kỳ Đại hội Đảng, đặc biệt là Nghị quyết Trung ương V khóa VIII về xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và Nghị quyết 33 Hội nghị Trung ương 9 khóa XI về xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước; Chiến lược phát triển Văn hóa Việt Nam đến năm 2020 tầm nhìn 2030; Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp Văn hóa tại Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030, các Đề án triển khai Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị về văn học nghệ thuật, các Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch hành động của ngành văn hóa… Đây là hệ thống các văn bản chính sách và biện pháp văn hóa quan trọng của Việt Nam.