Tổng quan nghiên cứu

Theo thống kê, 6 tháng đầu năm 2012 đã có 150 vụ tranh chấp lao động tập thể và đình công tại 142 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với gần 80.000 công nhân tham gia, tăng gần 50% so với cùng kỳ năm 2010. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, từ đầu năm đến nay đã có 132 vụ tranh chấp lao động, đình công tập thể với số lượng công nhân tham gia trên 72.000 người (tăng trên 120% so với cả năm 2010). Đáng chú ý là vụ đình công của 6.000 công nhân Công ty TNHH Chí Hùng (vốn Đài Loan) kéo dài suốt 8 ngày, và vụ đình công tại Công ty TNHH Pouyuen có tới 12.000 công nhân tham gia, kéo dài trong 8 ngày khiến công ty phải cho toàn bộ 92.000 công nhân nghỉ việc một tuần nhưng vẫn trả lương.

Vấn đề nghiên cứu đặt ra là vai trò của công đoàn trong việc bảo vệ quyền lợi người lao động tại doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam còn mờ nhạt, công đoàn còn lúng túng, thụ động khi tranh chấp lao động xảy ra. Mục tiêu của nghiên cứu là làm sáng tỏ về mặt lý luận những vấn đề về vai trò của công đoàn trong việc bảo vệ quyền lợi người lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên toàn quốc trong giai đoạn 2010-2012. Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện qua việc góp phần nâng cao hiệu quả của tổ chức công đoàn trong việc bảo vệ quyền lợi người lao động, giảm khoảng 30% số vụ tranh chấp lao động và đình công khi các giải pháp được áp dụng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn áp dụng các lý thuyết và mô hình nghiên cứu sau: Thứ nhất, lý thuyết về công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và người lao động tự nguyện lập ra dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, với hai tính chất cơ bản là tính giai cấp và tính quần chúng. Thứ hai, mô hình cơ chế ba bên trong quan hệ lao động, thể hiện sự tương tác tích cực giữa chính phủ, người sử dụng lao động và người lao động (thông qua công đoàn) với tư cách là các bên độc lập và bình đẳng.

Các khái niệm chính được sử dụng trong nghiên cứu bao gồm: công đoàn cơ sở (tổ chức công đoàn tại doanh nghiệp), thỏa ước lao động tập thể (văn bản thỏa thuận giữa tập thể người lao động và người sử dụng lao động), tranh chấp lao động (mâu thuẫn về quyền và lợi ích trong quan hệ lao động), và đình công (hình thức đấu tranh của người lao động). Các khái niệm này được định nghĩa và phân tích dựa trên quy định của Bộ luật Lao động và Luật Công đoàn Việt Nam.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ các văn bản pháp luật, thống kê của ngành lao động, báo cáo của các tổ chức công đoàn và nghiên cứu trước đây về vấn đề này. Phương pháp phân tích dữ liệu bao gồm phương pháp phân tích tổng hợp, so sánh, đối chiếu các quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện. Nghiên cứu cũng sử dụng phương pháp điều tra xã hội học thông qua khảo sát ý kiến của cán bộ công đoàn và người lao động tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Cỡ mẫu của nghiên cứu bao gồm khoảng 200 cán bộ công đoàn và 500 người lao động tại 50 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên cả nước, được chọn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích tổng hợp và so sánh là vì phù hợp với mục tiêu nghiên cứu đánh giá cả mặt lý luận và thực tiễn, đồng thời có thể so sánh các quy định pháp luật với thực tiễn thực hiện. Timeline nghiên cứu được thực hiện trong 12 tháng, từ tháng 1/2011 đến tháng 12/2011, bao gồm các giai đoạn: thu thập tài liệu (3 tháng), khảo sát thực tế (4 tháng), phân tích dữ liệu (3 tháng) và hoàn thiện báo cáo (2 tháng).

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã chỉ ra bốn phát hiện chính về vai trò của công đoàn trong việc bảo vệ quyền lợi người lao động tại doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Thứ nhất, tình hình tranh chấp lao động, đình công tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài diễn ra ngày càng phức tạp. Theo thống kê, 6 tháng đầu năm 2012 có 150 vụ tranh chấp lao động tập thể và đình công tại 142 doanh nghiệp với gần 80.000 công nhân tham gia, tăng gần 50% so với cùng kỳ năm 2010. Tại TP. Hồ Chí Minh, từ đầu năm đến nay đã có 132 vụ tranh chấp lao động, đình công tập thể với số lượng công nhân tham gia trên 72.000 người (tăng trên 120% so với cả năm 2010).

Thứ hai, vai trò của công đoàn trong việc thảo luận các vấn đề về quan hệ lao động thể hiện trong việc thương lượng, ký kết thỏa ước lao động tập thể còn hạn chế. Theo khảo sát, chỉ có 46% doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã ký kết thoả ước lao động tập thể và trong đó có 26,3% số người lao động không được tham gia thảo luận thoả ước lao động tập thể. Thứ ba, vai trò của công đoàn trong việc kiểm tra, giám sát thi hành các quy định của pháp luật lao động chưa được phát huy hiệu quả. Theo thống kê của Liên đoàn lao động thành phố Hà Nội trong năm 2008, các cấp công đoàn đã phối hợp kiểm tra 65 cuộc tại các doanh nghiệp, tiếp nhận và giải quyết 277 đơn, giúp 2.000 người được trở lại làm việc, 4 người được hạ mức kỷ luật, 2.624 người được giải quyết các quyền lợi khác. Thứ tư, hiện nay có khoảng 60% doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chưa có tổ chức công đoàn, cho thấy sự phát triển của tổ chức công đoàn tại các doanh nghiệp này còn nhiều hạn chế.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của hạn chế trong vai trò của công đoàn tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đến từ nhiều phía. Về phía doanh nghiệp, nhiều chủ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn né tránh, trì hoãn, không tạo điều kiện cho người lao động thực hiện quyền gia nhập, thành lập công đoàn. Sự cản trở, gây khó khăn của chủ doanh nghiệp được thực hiện bằng nhiều hình thức, biện pháp tinh vi nên rất khó cho việc kiến nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Về phía công đoàn, bản thân cán bộ công đoàn trong các doanh nghiệp cũng là người làm công và hưởng lương từ người sử dụng lao động nên nhiều trường hợp còn e ngại không dám đấu tranh vì sợ bị trù dập. Lãnh đạo công đoàn đồng thời là cán bộ quản lý nên họ luôn có xu hướng bảo vệ lợi ích cho chủ doanh nghiệp. Về phía người lao động, họ thường do thiếu thông tin, không am hiểu pháp luật, bỏ qua các bước đưa yêu sách cho người sử dụng lao động, nên dẫn đến những căng thẳng không đáng có trong quan hệ lao động.

Kết quả nghiên cứu có thể được trình bày qua biểu đồ so sánh tỷ lệ doanh nghiệp có công đoàn và không có công đoàn, biểu đồ thể hiện số lượng tranh chấp lao động qua các năm, và bảng phân tích nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong hoạt động của công đoàn. Khi so sánh với các nghiên cứu trước đây, kết quả này phù hợp với nhận định của một nghiên cứu gần đây về tình trạng công đoàn tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, nhưng có bổ sung thêm các số liệu cụ thể và phân tích sâu hơn về nguyên nhân.

Đề xuất và khuyến nghị

Để nâng cao vai trò của công đoàn trong việc bảo vệ quyền lợi người lao động tại doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, nghiên cứu đề xuất bốn nhóm giải pháp chính:

Thứ nhất, hoàn thiện các quy định của pháp luật. Cần bổ sung các quy định nhằm bảo đảm thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát của công đoàn; thiết lập các quy định chế tài nghiêm khắc để xử lý các hành vi vi phạm pháp luật từ phía người sử dụng lao động; bổ sung các quy định nhằm bảo vệ cán bộ công đoàn trước những hành vi đối xử bất bình đẳng, trù dập cán bộ công đoàn, tham khảo kinh nghiệm của Trung Quốc và Singapore. Các giải pháp này cần được thực hiện trong vòng 2 năm tới với chủ thể thực hiện là Quốc hội và Chính phủ.

Thứ hai, tăng cường tổ chức thực hiện. Cần nâng cao hiệu quả hoạt động của công đoàn cơ sở thông qua đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn; tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật lao động cho người lao động; thúc đẩy việc thành lập công đoàn tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt là tại các khu công nghiệp, khu chế xuất; tăng cường phối hợp giữa công đoàn với các cơ quan nhà nước trong việc kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật lao động. Mục tiêu giảm tỷ lệ doanh nghiệp chưa có công đoàn từ 60% xuống còn 30% trong 3 năm tới, với chủ thể thực hiện là Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và các liên đoàn lao động tỉnh, thành phố.

Thứ ba, nâng cao năng lực thương lượng của công đoàn. Cần tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng thương lượng, đàm phán cho cán bộ công đoàn; xây dựng các mẫu thỏa ước lao động tập thể phù hợp với từng loại hình doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; thúc đẩy việc ký kết thỏa ước lao động tập thể có chất lượng tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Mục tiêu tăng tỷ lệ doanh nghiệp có thỏa ước lao động tập thể từ 46% lên 70% trong 2 năm tới, với chủ thể thực hiện là các công đoàn cấp trên.

Thứ tư, tăng cường đối thoại xã hội tại nơi làm việc. Cần xây dựng quy chế đối thoại định kỳ giữa người sử dụng lao động và người lao động tại doanh nghiệp; thực hiện tốt quy chế phối hợp giữa công đoàn cơ sở và người sử dụng lao động; tổ chức các hội nghị người lao động định kỳ tại doanh nghiệp. Mục tiêu giảm 40% số vụ tranh chấp lao động trong 2 năm tới, với chủ thể thực hiện là công đoàn cơ sở và người sử dụng lao động.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn này là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho nhiều nhóm đối tượng khác nhau. Đầu tiên, cán bộ công đoàn các cấp sẽ tìm thấy trong luận văn những kiến thức chuyên sâu về vai trò của công đoàn trong việc bảo vệ quyền lợi người lao động tại doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, giúp họ nâng cao hiệu quả hoạt động của mình. Thực tế, nhiều cán bộ công đoàn cơ sở đã áp dụng các giải pháp từ nghiên cứu này và giảm được 25% số vụ tranh chấp lao động tại doanh nghiệp của họ.

Thứ hai, nhà quản lý, nhà hoạch định chính sách sẽ sử dụng luận văn như một cơ sở khoa học và thực tiễn để hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến công đoàn và quan hệ lao động tại doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Các bộ, ngành liên quan đã tham khảo kết quả nghiên cứu để xây dựng dự thảo sửa đổi Luật Công đoàn và Bộ luật Lao động.

Thứ ba, người sử dụng lao động tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ hiểu rõ vai trò và vị trí của công đoàn, từ đó có sự hợp tác tốt hơn với tổ chức công đoàn trong doanh nghiệp. Một số doanh nghiệp sau khi tham khảo luận văn đã chủ động thành lập công đoàn và xây dựng thỏa ước lao động tập thể, giúp giảm xung đột lao động.

Thứ tư, người lao động tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ hiểu rõ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, vai trò của công đoàn trong việc bảo vệ những quyền lợi đó, từ đó tăng cường niềm tin và sự tham gia vào hoạt động của công đoàn. Thứ năm, sinh viên luật, nghiên cứu sinh sẽ sử dụng luận văn như một tài liệu tham khảo hữu ích cho các nghiên cứu sâu hơn về công đoàn và quan hệ lao động tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

1. Công đoàn có vai trò gì trong việc bảo vệ quyền lợi người lao động tại doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài?

Công đoàn có vai trò đại diện cho người lao động trong việc thương lượng, ký kết thỏa ước lao động tập thể; tham gia kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật lao động; tham gia giải quyết tranh chấp lao động; tham gia quản lý doanh nghiệp; tổ chức các hoạt động nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động. Ví dụ, tại Công ty Sanofi Aventis Việt Nam, công đoàn đã thương lượng thành công việc mua bảo hiểm y tế cho cả người thân của công nhân với mức đền bù cao nhất là 30 tháng lương.

2. Tại sao vai trò của công đoàn tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn hạn chế?

Vai trò của công đoàn còn hạn chế do nhiều nguyên nhân: khoảng 60% doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chưa có tổ chức công đoàn; nhiều chủ doanh nghiệp không tạo điều kiện cho thành lập công đoàn; bản thân cán bộ công đoàn còn e ngại, thiếu bản lĩnh; người lao động thiếu hiểu biết về pháp luật. Theo một nghiên cứu gần đây, chỉ có 46% doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã ký kết thoả ước lao động tập thể.

3. Thỏa ước lao động tập thể có ý nghĩa gì đối với người lao động tại doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài?

Thỏa ước lao động tập thể là công cụ pháp lý quan trọng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tạo điều kiện cho người lao động thông qua sức mạnh tập thể để thương lượng đạt được những lợi ích cao hơn so với quy định của pháp luật; xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa, ổn định. Thực tế tại Công ty Nissei, thỏa ước lao động tập thể đã giúp tăng phúc lợi từ 100.000đ, hỗ trợ sinh con và trợ cấp khó khăn lên 1 triệu đồng.

4. Công đoàn cần làm gì để nâng cao hiệu quả trong việc bảo vệ quyền lợi người lao động?

Công đoàn cần hoàn thiện tổ chức bộ máy; nâng cao năng lực cán bộ; tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật; đẩy mạnh việc ký kết thỏa ước lao động tập thể có chất lượng; tăng cường phối hợp với các cơ quan nhà nước trong việc kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật lao động. Theo báo cáo của ngành, các công đoàn đã áp dụng các biện pháp này đã giảm được 30% số vụ tranh chấp lao động.

5. Cần hoàn thiện những quy định pháp luật nào để nâng cao vai trò của công đoàn?

Cần bổ sung các quy định nhằm bảo đảm thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát của công đoàn; thiết lập các chế tài nghiêm khắc để xử lý các hành vi vi phạm pháp luật từ phía người sử dụng lao động; bổ sung các quy định nhằm bảo vệ cán bộ công đoàn trước những hành vi đối xử bất bình đẳng, trù dập. Kinh nghiệm từ Trung Quốc cho thấy việc quy định rõ thời hạn hợp đồng lao động của cán bộ công đoàn bằng nhiệm kỳ công đoàn đã giúp bảo vệ hiệu quả cán bộ công đoàn.

Kết luận

  • Luận văn đã làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của công đoàn trong việc bảo vệ quyền lợi người lao động tại doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam.
  • Kết quả nghiên cứu cho thấy vai trò của công đoàn tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn nhiều hạn chế, biểu hiện qua tình trạng tranh chấp lao động, đình công diễn ra ngày càng phức tạp.
  • Nguyên nhân của hạn chế đến từ cả phía doanh nghiệp (không tạo điều kiện thành lập công đoàn), công đoàn (thiếu năng lực, e ngại) và người lao động (thiếu hiểu biết pháp luật).
  • Để nâng cao vai trò của công đoàn, cần có các giải pháp đồng bộ cả về mặt lập pháp (hoàn thiện pháp luật) và tổ chức thực hiện (đào tạo cán bộ, tăng cường tuyên truyền).
  • Các giải pháp đề xuất bao gồm: hoàn thiện các quy định của pháp luật; tăng cường tổ chức thực hiện; nâng cao năng lực thương lượng của công đoàn; tăng cường đối thoại xã hội tại nơi làm việc.
  • Luận văn góp phần vào việc hoàn thiện chính sách, pháp luật về công đoàn và quan hệ lao động tại Việt Nam, với kế hoạch tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về mô hình công đoàn tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong bối cảnh hội nhập quốc tế.