CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ TRÍ TUỆ NHÂN TẠO TRONG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG 1. Quản trị rủi ro tín dụng 1. Rủi ro tín dụng 1. Khái niệm Trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thì hoạt động tín dụng luôn mang tính cốt lỗi mang lại lợi nhuận chủ yếu nhưng nó cũng là nghiệp vụ tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Trong hoạt động tín dụng thì rủi ro về hoạt động cho vay là nguyên nhân chủ yếu gây tổn thất và ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng kinh doanh của ngân hàng. Hiện nay, với nhiều cách tiếp cận khác nhau, các nhà khoa học, các tổ chức tài chính, ngân hàng đã đưa ra nhiều khái niệm về rủi ro tín dụng. Có thể thấy một số ví dụ điển hình như: Bùi Diệu Anh (2016) cho rằng rủi ro tín dụng thường chỉ biến cố chậm trả hoặc không trả nợ của người đi vay so với thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, điều này có thể mang lại tốn thất tài chính cho ngân hàng. Theo Ủy ban Basel II (2003) cho rằng rủi ro tín dụng là khả năng bên vay nợ ngân hàng hoặc đối tác không đáp ứng nghĩa vụ thanh toán theo các điều khoản đã thỏa thuận.
Như vậy, rủi ro tín dụng phát sinh khi một hoặc các bên trong hợp đồng tín dụng không có khả năng thanh toán cho các bên còn lại. Rủi ro tín dụng có thể xảy ra bất cứ lúc nào là điều không thể tránh khỏi trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Từ các khái niệm tham khảo qua các nghiên cứu đi trước, cùng với quan điểm của bản thân, Tác giả tóm lại khái niệm quả trị rủi ro tín dụng như sau: “Rủi ro tín dụng là loại rủi ro gây tổn thất cho ngân hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận đã ký kết với ngân hàng”. Phân loại Theo Bùi Diệu Anh (2016) cho rằng rủi ro được chia thành các loại sau: Căn cứ vào hậu quả rủi ro 9 Rủi ro thuần túy (Pure Risk) được hiểu là khả năng thay đổi/xuất hiện những biến cố ngoài dự kiến và hậu quả của biến cố này chắc chắn làm thiệt hại cho ngân hàng (khách hàng không trả nợ vay đúng hạn…).
Rủi ro đầu cơ/kinh doanh (Speculating Risk) là khả năng xuất phát từ những biến cố ngoài dự kiến, tuy nhiên biến cố này không phải lúc nào cũng mang lại thiệt hại cho ngân hàng như rủi ro thuần túy mà kết quả của nó có thể xuất hiện hai khả năng ngược chiều: lời hoặc là lỗ. Ví dụ sự thay đổi tỷ giá, lãi suất,…. đối với kết quả kinh doanh của ngân hàng. Căn cứ vào tính chất của rủi ro Rủi ro tài chính (Financial Risk) là khả năng xuất hiện những biến cố bất thường mà hậu quả của nó có thể đo lường trực tiếp từ kết quả tài chính (thu thập của ngân hàng).
Việc khách hàng không hoàn trả gốc và lãi, thay đổi lãi suất, tỷ giá làm cho thu nhập của ngân hàng bị giảm sút, thậm chí thua lỗ,…. là các biểu hiện của rủi ro tài chính. Rủi ro phi tài chính (Non-financial Risk) là khả năng xảy ra những biến cố bất thường, bất lợi cho ngân hàng nhưng không thể đo lường bằng tổn thất tài chính một cách trực tiếp. Chẳng hạn như những biến cố xuất hiện trong quá tình tác nghiệp ngoài nhận thức/ ý muốn của người thực hiện (rủi ro tác nghiệp); biến cố không đáp ứng được nhu cầu rút tiền của khách hàng trong hoạt động của ngân hàng.
Căn cứ vào cách phân loại của ủy ban Basel Rủi ro tín dụng (Credit Risk) là khả năng mà khách hàng vay hoặc bên đối tác của ngân hàng không thực hiện đúng cam kết đã thỏa thuận. Theo định nghĩa này thì rủi ro tín dụng không phải chỉ có trong hoạt động cấp tín dụng, mà hiểu rộng hơn có thể xem rủi ro tín dụng là rủi ro đối tác (Counterparty Risk). Theo đó rủi ro đối tác bao gồm trong đó nhiều loại từ rủi ro tín dụng trong quan hệ giữa ngân hàng cho vay và người đi vay, rủi ro trong các hợp đồng phái sinh mà ngân hàng tham gia, rủi ro trong việc ngân hàng đầu tư chứng khoán,….thông qua biến cố vi phạm/ phá vỡ cam kết hợp đồng từ phía khách hàng gây bất lợi cho ngân hàng. Rủi ro thị trường (Market Risk) là khả năng tổn thất xảy ra trong và ngoài bảng cân đối kế toán của ngân hàng, phát sinh từ các biến động giá trên thị trường.
Theo 10 Ủy Basel thì rủi ro thị trường là cộng gộp của các loại rủi ro bộ phận như rủi ro lãi suất (Interest Risk), rủi ro vốn (Equity Risk), rủi ro ngoại hối (Foreign currency Risk), rủi ro quyền chọn (Option Risk) và rủi ro hàng hóa (Commodity Risk). Rủi ro hoạt động (Operational Risk) là rủi ro gây tổn thất do các nguyên nhân nội bộ (như quy trình, hệ thống, nhân viên vận hành không tốt, không đầy đủ) hoặc do các nguyên nhân khách quan bên ngoài. Gồm 04 nhóm cơ bản: Tài sản vật chất, con người, pháp lý và gian lận. Phân loại rủi ro tín dụng (Credit Risk) Rủi ro giao dịch là loại rủi ro có tính kỹ thuật, nó bao hàm 3 loại rủi ro cụ thể: Rủi ro lựa chọn, rủi ro đảm bảo, rủi ro nghiệp vụ.
Rủi ro lựa chọn là loại rủi ro liên quan đến khâu thẩm định và phân tích khách hàng trước khi đưa ra quyết định cấp tín dụng khi tiếp nhận đề nghị vay từ phía khách hàng, do hiện tượng thông tin bất cân xứng ngân hàng luôn phải đứng trước một sự lựa chọn bất lợi đó là khả năng chấp thuận một khách hàng xấu, một khoản vay có độ an toàn thấp đồng thời với việc loại bỏ một khách hàng tốt, một khoản vay có độ an toàn cao. Sự lựa chọn không đúng là một trong các nguyên nhân đầu tiên dẫn đến việc ngân hàng phải đương đầu với khả năng không thu hồi được vốn ban đầu. Rủi ro đảm bảo xuất phát từ các tiêu chuẩn đảm bảo cho sự an toàn của một khoản tín dụng được ngân hàng chấp thuận. Đó là các tiêu chuẩn về tài sản đảm bảo, vốn đối ứng mà khách hàng vay phải có, về những thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng vay,….
Những điều kiện này tạo tiền đề cho một mối quan hệ chặt chẽ, đầy đủ cơ sở pháp lý nhằm bảo vệ quyền lợi cho ngân hàng trong trường hợp xảy ra tranh chấp sau này. Mặc khác, chúng cũng tạo ra những rào cản kỹ thuật buộc khách hàng vay phải tuân thủ những thỏa thuận với ngân hàng trong quan hệ tín dụng, ngăn chặn những hành vi gây bất lợi cho ngân hàng xuất phát từ rủi ro đạo đức (Moral hazard) của người vay. Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến những tác nghiệp trong quá trình thực hiện giao dịch tín dụng chằng hạn như việc thiết lập và thực hiện một quy trình cấp tín dụng chặt chẽ, trải qua nhiều bước liên hoàn kể từ khi khách hàng đệ trình đề nghị vay vốn cho đến khi khoản tín dụng đó kết thúc đúng như thỏa thuận trong hợp đồng 11 tín dụng; việc quy định và thực hiện các bước kiểm soát trong và sau khi cho vay thông qua quy trình giải ngân, quy trình xử lý nợ có vấn đề,……những sai sót trong quá trình tác nghiệp có thể làm gia tăng khả năng xảy ra rủi ro và mức độ tổn thất trong quá trình thực hiện một khoản cấp tín dụng. Rủi ro giao dịch có thể biểu hiện ở hai mức độ dẫn đến hậu quả xấu về mặt tài chính cho ngân hàng; ngân hàng có thể bị gia tăng chi phí, giảm sút nguồn thanh khoản dự kiến (nếu mức độ chậm trả), tuy nhiên có thể dẫn đến thua lỗ và phá sản (nếu rủi ro ở mức độ khách hàng vỡ nợ, không trả được).
Xuất phát từ bản chất của quan hệ tín nhiệm một yếu tố vô hình nên rủi ro tín dụng có tính tất yếu không thể triệt tiêu hoàn toàn. Vì vậy ngân hàng phải áp dụng nhiều biện pháp nhằm định lượng, kiểm soát đi đến giảm thiểu rủi ro tín dụng như hệ thống cảnh báo sớm rủi ro tín dụng. Rủi ro danh mục là rủi ro gắn liền với một danh mục cho vay thiếu hiệu quả của ngân hàng thương mại, hậu quả của nó có thể làm cho hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại thiếu an toàn giảm sút lợi nhuận, tổn thất cho vay vượt quá giới hạn chịu đựng của ngân hàng. Rủi ro danh mục bao gồm: Rủi ro nội tại và rủi ro tập trung.
Rủi ro nội tại xuất phát từ những đặc điểm riêng biệt của mỗi chủ thể vay vốn, mỗi ngành kinh tế, mỗi hình thức, phương thức cấp tín dụng. Có thể nói rủi ro nội tại có tính tất yếu, không thể triệt tiêu vì nó phụ thuộc về bản chất của đối tượng mà ngân hàng đầu tư, các biện pháp của ngân hàng chỉ có thể giúp kiểm soát từ đó hạn chế nó. Rủi ro tập trung là rủi ro xuất phát từ sự thiếu đa dạng trong danh mục tín dụng của ngân hàng, đi ngược lại nguyên tắc phân tán rủi ro trong kinh doanh tiền tệ. Theo định nghĩa của Ủy ban Basel: “Rủi ro tập trung là bất kỳ rủi ro đơn lẻ hoặc nhóm rủi ro nào có khả năng tạo ra tổn thất đủ lớn liên quan đến mức vốn của ngân hàng, tài sản có của ngân hàng hoặc tổng tốn thất của ngân hàng”.
Nhận xét về tầm quan trọng của rủi ro tập trung, ủy ban Basel cũng nhận định “Hoạt động cho vay là hoạt động cơ bản của hầu hết các ngân hàng nên rủi ro tín dụng cũng là loại rủi ro tập trung cơ bản nhất trong phạm vi của một ngân hàng”. Có thể nhận biết rủi ro tín dụng của một 12 ngân hàng thông qua phân tích cơ cấu danh mục tín dụng của họ. Việc tuân thủ các giới hạn tối đa trong cấp tín dụng đối với từng khách hàng, nhóm khách hàng, từng khu vực ngành kinh tế cho thấy mức độ tập trung hay phân tán đa dạng hóa của danh mục tín dụng. Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đến hoạt động ngân hàng Giảm lợi nhuận của ngân hàng: Khi rủi ro tín dụng xảy ra sẽ phát sinh các khoản nợ khó đòi, sự ứ đọng vốn dẫn đến giảm vòng quay vốn ngân hàng, phát sinh các khoản chi phí quản trị, giám sát thu hồi nợ,….