Chương 1 : Tổng Quan quả đó học và cải thiện việc chọn một hành động là vấn đề luận văn tập trung nghiên cứu. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu đề ra của bài nghiên cứu này là làm giảm tổng thời gian chờ của các phương tiện tại một nút giao thông bằng phương pháp sử dụng mô hình mạng CNN với dữ liệu đầu vào là hình ảnh một nút giao thông sau đó áp dụng kết quả đầu ra cho việc học tăng cường. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là một phần mềm tích hợp trí tuệ nhân tạo giúp tối ưu tổng thời gian chờ của các phương tiện. Phạm vi nghiên cứu là mô phỏng quá trình tự học của phần mềm với dữ liệu đầu vào là hình ảnh của con đường giúp giảm tổng thời gian chờ của các phương tiện giao thông.
Mô phỏng việc các phương tiện giao thông di chuyển tại một nút giao thông bằng phần mềm SUMO để tính tổng thời gian chờ. Thời gian ước tính để hoàn tất công trình nghiên cứu là 12 tháng. Nội dung nghiên cứu Nghiên cứu thiết kế mạng CNN cho phù hợp với mục tiêu nghiên cứu của đề tài đã đề ra. Nghiên cứu và áp dụng phương pháp mô hình mạng CNN và học tăng cường để cải thiện thời gian chờ của phương tiện giao thông.
So sánh tổng thời gian chờ của hệ thống đèn giao thông khi áp dụng mô hình mạng nơ-ron tích chập và phương pháp học tăng cường với hệ thống đèn tĩnh. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết. Phương pháp phân loại và hệ thống hóa lý thuyết. Phương pháp mô phỏng.
Bố cục đề tài Chương 1: Tổng Quan 4 Luan van Chương 1 : Tổng Quan Chương này trình bày đặt vấn đề dẫn nhập lý do chọn đề tài, công trình liên quan, mục tiêu nghiên cứu, nội dung nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, các giới hạn đề tài và bố cục đề tài. Chương 2: Cơ Sở Lý Thuyết Chương này giới thiệu về lý thuyết cơ bản về trí tuệ nhân tạo và các ứng dụng của nó trong đời sống. Chương 3: Giải pháp giảm thời gian chờ của phương tiện dựa vào mạng nơ- ron tích chập cùng với học tăng cường. Chương này giới thiệu về hướng đề xuất của luận văn.
Chương 4: Kết luận – Hướng phát triển Chương này trình bày tóm tắt những gì đã làm được trong luận văn. Và nêu ra hướng phát triển của đề tài trong tương lai. 5 Luan van Chương 2 : Cơ Sở Lý Thuyết Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Tổng quan trí tuệ nhân tạo (AI – Artificial Intelligence) 2.
Định nghĩa Trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence) có thể được định nghĩa như một ngành của khoa học máy tính liên quan đến việc tự động hóa các hành vi thông minh [8]. AI là một bộ phận của khoa học máy tính và do đó nó phải được đặt trên những nguyên lý lý thuyết vững chắc, có khả năng ứng dụng được của lĩnh vực này. Ở thời điểm hiện tại, Thuật ngữ này thường dùng để nói đến các máy tính có mục đích không nhất định và ngành khoa học nghiên cứu về các lý thuyết và ứng dụng của trí tuệ nhân tạo. Tức là mỗi loại trí tuệ nhân tạo hiện nay đang dừng lại ở mức độ những máy tính hoặc siêu máy tính dùng để xử lý một loại công việc nào đó như điều khiển một ngôi nhà, nghiên cứu nhận diện hình ảnh, xử lý dữ liệu của bệnh nhân để đưa ra phác đồ điều trị, xử lý dữ liệu để tự học hỏi, khả năng trả lời các câu hỏi về chẩn đoán bệnh, trả lời khách hàng về các sản phẩm của một công ty,.1: Tổng quan về trí tuệ nhân tạo Nguồn: https://irishtechnews-ie.com/wp-content/uploads/2019/03/AI_vs_ML- 759x500.jpg?lossy=1&ssl=1 6 Luan van Chương 2 : Cơ Sở Lý Thuyết 2.
Lịch sử trí tuệ nhân tạo Ý tưởng xây dựng một chương trình AI xuất hiện lần đầu vào tháng 10 năm 1950 [9], khi nhà bác học người Anh Alan Turing xem xét vấn đề “liệu máy tính có khả năng suy nghĩ hay không?”. Để trả lời câu hỏi này, ông đã đưa ra khái niệm "phép thử bắt chước" mà sau này người ta gọi là “phép thử Turing”, phép thử được thực hiện dưới dạng một trò chơi. Theo đó, có ba đối tượng tham gia trò chơi (gồm hai người và một máy tính). Một người (người thẩm vấn) ngồi trong một phòng kín tách biệt với hai đối tượng còn lại.
Người này đặt các câu hỏi và nhận các câu trả lời từ người kia (người trả lời thẩm vấn) và từ máy tính. Cuối cùng, nếu người thẩm vấn không phân biệt được câu trả lời nào là của người, câu trả lời nào là của máy tính thì lúc đó có thể nói máy tính đã có khả năng “suy nghĩ” giống như người. Đến mùa hè năm 1956, tại hội nghị do Marvin Minsky và John McCarthy tổ chức với sự tham dự của vài chục nhà khoa học tại trường Dartmouth, Mỹ, tên gọi “Artificial Intelligence” được chính thức công nhận và được dùng cho đến ngày nay. Cũng tại đây, Bộ môn nghiên cứu trí tuệ nhân tạo đầu tiên đã được thành lập.
Quá trình hình thành và phát triển của AI Từ 1950 – 1965, các nhà khoa học như John McArthy, Marvin Minsky, Allen Newell và Herbert Simon cùng với những sinh viên đã viết nên những lập trình giúp máy vi tính giải được những bài toán đố của đại số, chứng minh các định lý và nói được tiếng Anh [10]. Một số thành tựu ban đầu của giai đoạn này có thể kể đến như: chương trình chơi cờ của Samuel, chương trình lý luận logic của Newell và Simon, chương trình chứng minh các định lý hình học của Gelernter [10]. Bước sang thập nên 60, các nghiên cứu về trí tuệ nhân tạo chủ yếu tập trung vào biểu diễn tri thức và phương thức giao tiếp giữa người và máy tính bằng ngôn ngữ tự nhiên. Tuy nhiên, tất cả đều thất bại do tiến bộ tin học thời bấy giờ vẫn chưa đạt đến mức để có thể thực hiện.
7 Luan van Chương 2 : Cơ Sở Lý Thuyết Đến năm 1997, sau trận đấu lịch sử giữa kiện tướng cờ vua Garry Kasparov với máy tính DeepBlue của IBM [10], niềm hy vọng về trí tuệ nhân tạo mới được hồi sinh. Năm 2015, sự phát triển của nền tảng điện toán đám mây với chi phí ở mức chấp nhận được, cùng những bộ dữ liệu phong phú, các công cụ phát triển phần mềm miễn phí hoặc giá rẻ đã hỗ trợ rất nhiều cho các nhà nghiên cứu. Nhờ đó, những nghiên cứu về công nghệ học hỏi cho máy tính, còn được gọi các mạng thần kinh, từ chỗ vô cùng tốn kém đã trở nên tương đối rẻ. Tất cả đã giúp cho mảnh đất trí tuệ nhân tạo thu hút đông đảo các ông lớn như: Facebook, Google, Microsoft, …tham gia nghiên cứu, phát triển sản phẩm và mở ra kỷ nguyên mới cho trí tuệ nhân tạo.2: Lịch sử phát triển trí tuệ nhân tạo Nguồn: https://images.
Mục đích của trí tuệ nhân tạo Việc phát triển trí tuệ nhân tạo giúp cho máy móc có trí tuệ như con người: tạo ra các hệ thống có thể hiểu, suy nghĩ, học hỏi và hành xử giống con người. Hơn 8 Luan van Chương 2 : Cơ Sở Lý Thuyết thế nữa, các hệ thống này có thể thể hiện hành vi thông minh, học hỏi, chứng minh, giải thích và tư vấn cho người dùng của mình. Trí tuệ nhân tạo trong cách ngành liên quan Trí tuệ nhân tạo có thể đóng góp để xây dựng các hệ thống thông minh cho các ngành như sau: Khoa học máy tính, sinh học, tâm lý học, ngôn ngữ học, toán học, xã hội học, khoa học nơ-ron.3: Các ngành nghề áp dụng trí tuệ nhân tạo Nguồn: https://www.com/artificial_intelligence/images/components_of_ai. Một số ứng dụng của AI trong thực tiễn Hiện tại, trí tuệ nhân tạo được ứng dụng trong đời sống theo hai hướng: Dùng máy tính để bắt chước quá trình xử lý của con người và thiết kế những máy tính thông minh độc lập với cách suy nghĩ của con người.
Một số ứng dụng của trí tuệ nhân tạo trong cuộc sống thực tiễn có thể kể đến như: nhận dạng chữ viết, nhận dạng tiếng nói, dịch tự động, tìm kiếm thông tin, khai phá dữ liệu và phát triển tri thức, lái xe tự động, robot, … Trong tương lai, trí tuệ nhân tạo với sự quan tâm và phát triển của các ông lớn trong ngành công nghệ, dự kiến sẽ mở rộng hơn nữa phạm vi ứng dụng sang các lĩnh vực như: Y tế, xây dựng, ngân hàng, công nghệ siêu vi, … 9 Luan van Chương 2 : Cơ Sở Lý Thuyết Đến nay, trí tuệ nhân tạo đã góp phần không nhỏ trong việc giúp con người tiết kiệm sức lao động, đẩy nhanh quá trình tự động hóa và số hóa nền kinh tế của nhân loại, với chi phí khá rẻ. Mặc dù, vẫn có nhiều ý kiến lo ngại về công ăn việc làm của con người khi trí tuệ nhân tạo phát triển. Nhưng thiết nghĩ, nếu chúng ta có những chính sách phù hợp thì trí tuệ nhân tạo sẽ là nền tảng đưa loài người bước lên một tầm cao mới. Những nguy cơ tiềm ẩn Rất nhiều hãng công nghệ nổi tiếng có tham vọng tạo ra được cổ máy với trí tuệ nhân tạo vì giá trị của chúng là vô cùng lớn, giải quyết được rất nhiều vấn đề của con người mà loài người đang chưa giải quyết được.
Tuy trí tuệ nhân tạo mang lại rất nhiều giá trị cho cuộc sống loài người, nhưng chúng cũng tiềm ẩn những nguy cơ. Rất nhiều chuyên gia lo lắng rằng khi trí tuệ nhân tạo đạt tới 1 ngưỡng tiến hóa nào đó thì đó cũng là thời điểm loài người bị tận diệt. Rất nhiều các bộ phim đã khai thác đề tài này với nhiều góc nhìn, nhưng qua đó đều muốn cảnh báo loài người về mối nguy đặc biệt này. Nơ-ron nhân tạo (Neural Networks) 2.
Khởi đầu với nơron Một mạng nơ-ron được cấu thành bởi các nơ-ron đơn lẻ được gọi là các tri giác (perceptron). Một nơ-ron có thể nhận nhiều đầu vào và cho ra một kết quả duy nhất.4: Cấu tạo nơ-ron sinh học [11] Nơ-ron nhân tạo được lấy cảm hứng từ nơ-ron sinh học với cách hoạt động tương tự, nó là sự kết hợp từ nhiều đơn vị (unit), và tín hiệu sẽ được xử lý theo 10 Luan van Chương 2 : Cơ Sở Lý Thuyết từng lớp (layer), như trên hình, lớp ở giữa được gọi là lớp ẩn (hidden layer), còn lại là lớp vào (input layer) và lớp ra (output layer).