MỞ ĐẦU # x < 2 > ` 1.1 SU CAN THIẾT CUA DE TAI Binh Phước là một tỉnh nông nghiệp miền núi thuộc khu vực miền Đông Nam Bộ; là một trong bảy tỉnh kinh tế trọng điểm của phía Nam có vị trí kinh tế, xã hội và an ninh quốc phòng vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của đất nước; là cửa ngõ giao lưu giữa các tỉnh thuộc khu vực Tây Nguyên, miền Tây Nam Bộ với các tỉnh miền Đông Nam Bộ và cũng là cửa ngõ giao lưu với nước bạn Campuchia. Bình Phước có tổng diện tích tự nhiên là 688.280 ha; trong đó đất lâm nghiệp là 341.005 ha chiếm 49,54 % tông diện tích tự nhiên, nhưng diện tích đất có rừng che phủ là 133.590,5 ha chiếm 19,41 % còn lại 207.414,5 ha là đất lâm nghiệp không có rừng (quy hoạch 3 loại rừng, 2006). Huyện Đồng Phú là một trong ba huyện có diện tích đất lâm nghiệp lớn nhất toàn tỉnh (Phước Long, Bù Đăng và Đồng Phú). Trong tổng diện tích tự nhiên 93.655 ha đất lâm nghiệp, chiếm 63,77 % diện tích tự nhiên.
Tuy điện tích đất lâm nghiệp lớn nhưng diện tích đất có rừng không còn nhiều. Theo kết quả rà soát quy hoạch 3 loại rừng tỉnh Bình Phước giai đoạn 2006 — 2010; thi đất có rừng của huyện là 16.075,9 ha, chiếm 17,18 % điện tích tự nhiên, mà chủ yếu là rừng thứ sinh nghèo kiệt và rừng trồng chưa thành thục. Diện tích đất lâm nghiệp còn lại 43.579,1 ha (46,59 %); trên diện tích này, người dân đã trồng các loài cây công nghiệp và nông nghiệp có giá trị kinh tế cao, như: Cao su, Điều, Tiêu, Sầu riêng, Cam, Xoài. Thực hiện Nghị định số 200/2004/ND — CP của Chính phủ về việc “Sắp xếp, đối mới và phát triển lâm trường quốc doanh” và Thông tư số 10/2005/TT - BNN ngày 04/3/2005 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc “Hướng dẫn xây dựng và triển khai đề án sắp xếp, đổi mới và phát triển lâm trường quốc doanh”.
Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Phước đã xây dựng đề án “Sắp xếp, đôi mới va phát triển các đơn vị lâm nghiệp trên địa bàn tinh Bình Phước”. Trong đó, diện tích đất lâm nghiệp huyện Đồng Phú chỉ giữ lại 20.625 ha rừng cho Ban quản lý rừng Đồng Xoài, Ban quản lý rừng Suối Nhung và Ban quản lý rừng Tân Lập. Diện tích còn lại 39.030 ha sẽ được trả về địa phương quản lý và giao cho các dự án đề chuyền sang các mục đích sử dụng khác. Vì vậy, một yêu cầu cấp bách mà UBND tỉnh Bình Phước đặt ra cho ngành nông lâm nghiệp là phải quy hoạch, bố trí lại việc sử dụng đất lâm nghiệp một cách hợp lý nhất đến năm 2010 và 2020.
Dé có được những phương án quy hoạch sử dụng đất hợp lý, việc làm đầu tiên là phải điều tra, đánh giá nhằm thong kê được một cách toàn diện quỹ đất lâm nghiệp cả về số lượng và chất lượng. Những năm gần đây, phương pháp đánh giá đất do tô chức FAO đề nghị (1976, 1983, 1984, 1985, 1992) đã được áp dụng phô biến tại Việt Nam và cho thấy tính khả thi rất cao. Tuy vậy, phương pháp này đã được áp dụng cho sản xuất nông nghiệp nhiều hơn so với sản xuất lâm nghiệp. Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn trên, chúng tôi thực hiện đề tài “Ứng dụng phương pháp đánh giá đất của FAO làm cơ sở cho việc đề xuất sử dụng đất lâm nghiệp tại huyện Đồng Phú - Tỉnh Bình Phước" làm đề tài luận văn cao học; với mong muốn góp phần xây dựng cơ sở khoa học phục vụ cho việc bố trí sử dụng đất hợp lý trong vùng đất lâm nghiệp huyện Đồng Phú và tìm hiểu việc ứng dụng phương pháp đánh giá đất của FAO (1976, 1984) vào việc sử dụng đất lâm nghiệp ở địa phương.2 MỤC TIỂU NGHIÊN CỨU 1.1 Mục tiêu tổng quát Mục tiêu tổng quát của đề tài là: Xây dựng cơ sở khoa học phục vụ cho việc bố trí sử dụng đất hợp lý trong vùng dat lâm nghiệp huyện Đồng Phú theo phương pháp đánh giá đất của FAO (1976, 1984).2 Mục tiêu cụ thể Dé đạt được mục tiêu tông quát trên, dé tài có những mục tiêu cu thê sau: 1.
Đánh giá được một cách toàn diện quỹ đất lâm nghiệp huyện Đồng Phú cả về số lượng và chất lượng (tiềm năng sản xuất đất lâm nghiệp). Đánh giá được kha năng thích nghi đất đai của một số loại hình sử dụng đất nông lâm nghiệp với tiềm năng sản xuất đất lâm nghiệp huyện Đồng Phú. Lựa chọn và đề xuất được các loại hình sử dụng đất nông lâm nghiệp để làm cơ sở cho việc bố trí sử dụng đất lâm nghiệp huyện Đồng Phú.3 ĐÓI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 1.1 Đối tượng nghiên cứu Bản chất của phương pháp đánh giá đất nông lâm nghiệp của FAO là xác định khả năng thích nghỉ của các loại hình sử dụng đất đối với chất lượng của từng đơn vị dat đai. Vì vậy, đối tượng mà đề tài này tập trung nghiên cứu gồm: 1.
Các loại đất thuộc vùng đất lâm nghiệp (đất lâm phan). Các loại hình sử dụng đất, bao gồm các loại hình sử dụng đất thuộc nhóm: cây lâm nghiệp, cây công nghiệp và cây ăn trái.2 Địa bàn và phạm vi nghiên cứu 1.1 Địa bàn nghiên cứu Đề tài triển khai trên địa bàn huyện Đồng Phú. Huyện Đồng Phú nằm ở phía Nam tinh Bình Phước, trung tâm huyện ly là thị tran Tân Phú. Về ranh giới hành chính: Phía Bắc giáp huyện Phước Long; phía Đông Bắc giáp huyện Bù Đăng: phía Nam giáp tỉnh Đồng Nai; phía Tây Nam giáp tỉnh Bình Dương: phía Tây giáp huyện Bình Long và thị xã Đồng Xoài.2 Giới hạn phạm vi và đối tượng nghiên cứu - Phạm vi: Huyện Đồng Phú có diện tích tự nhiên là 93.656 ha đất lâm nghiệp.656 ha đất lâm nghiệp có 55.173 ha đất lâm nghiệp tập trung thành một vùng về phía Đông huyên Đồng Phú.
Nghiên cứu này thực hiện trên diện tích 55.173 ha đất lâm nghiệp tập trung. - Đối tượng: Đối tượng dùng cho đánh giá đất đai trong nghiên cứu này là các loại loại hình sử dụng đất: Sao đen, Dầu rai, Keo lá tràm, Keo lai, Dó bầu, Téch, Xoan ta; Điêu, Cao su, Tiêu, cây ăn quả. Chương 2 TÔNG QUAN 2.1 TINH HÌNH NGHIÊN CUU DAT TREN THE GIỚI VÀ TRONG NUOC 2.1 Nghiên cứu về phan loại và ban đồ dat Công tác nghiên cứu về phân loại đất và ban đồ đất đã được Tổ chức Lương nông của Liên hợp quốc (FAO) nghiên cứu trong khoảng 30 năm trở lại đây và tập trung vào những hướng sau: (1) lập bản đồ tài nguyên đất, (2) đánh giá đất đai, (3) nghiên cứu hiệu suất tiềm năng đất đai, (4) sử dụng quản lý bảo vệ đất. Cho đến nay, hầu hết các nước trên thế giới đã xây dựng được bản đồ đất cho riêng mình cùng với hệ thống chuyên đề về dat và sử dụng dat.1 Nghiên cứu phân loại đất trên thế giới Hiện nay, trên thé giới đồng thời tồn tại 3 hệ thống phân loại đất phố biến là: (1) Hệ thống phân loại đất phát sinh theo trường phái phân loại phát sinh học, (2) Hệ thống phân loại đất của Mỹ theo trường phái phân loại định lượng, (3) Hệ thống phân loại đất của FAO - UNESCO là sự phối hợp giữa trường phái phân loại phát sinh học và trường phái phân loại định lượng.
Công tác nghiên cứu về phân loại đất trên trên thé giới có thé chia làm 3 thời kỳ sau: - Trước Docuchaev, các nhà khoa học ở phương Đông và phương Tây đã có những công trình nghiên cứu bổ sung cho những hiểu biết, kinh nghiệm của nông dân trên thế giới về đất đai. Đến giữa thế kỷ XX có ba khuynh hướng phân loại đất là: (1) Phân loại phát sinh theo địa lý phát sinh, tiến hóa phát sinh, yếu tố phát sinh; (2) Phân loại của Tây Âu theo sự kết hợp giữa nông học và địa chất; (3) Phân loại đất của Mỹ theo kinh nghiệm sử dụng đất, tính chất đất và năng suất cây trồng. - Từ thập kỷ 60 đã ra đời 2 trung tâm nghiên cứu phân loại đất và bản đồ đất với nhãn quan toàn cầu: * Trung tâm Phân loại đất: Do Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ chủ trì, tập hợp một lực lượng lớn là các nhà khoa học đất hàng đầu thế giới, đã xây dựng những quan điểm, phương pháp chuan đoán định lượng và đã cho ra đời hệ thống phan loại đất theo phương pháp chuân đoán định lượng với hệ thống thuật ngữ riêng. * Trung tâm FAO - UNESCO: FAO - UNESCO vận dụng phương pháp định lượng trong phân loại đất của Trung tâm Phân loại đất để xây dựng hệ thông phân vị mang tính chú dẫn bản đồ, hệ thống phân loại và thuật ngữ mang tính hoà hợp có mối quan hệ lãnh thổ, nhằm sử dụng ngôi nha chung toàn cau.
Bản đồ đất thế giới tỷ lệ 1/5.000 đã xuất bản năm 1961, nhưng bản chú giải của nó được bổ sung theo từng thời kỳ (Hội Khoa học đất Việt Nam, 2000).2 Nghiên cứu phân loại đất ở Việt Nam Công tác nghiên cứu phân loại và lập bản đồ đất ở Việt Nam một cách có hệ thống, trên những phạm vi rộng được bat dau từ thập kỷ 60, có thé phân chia làm các thời kỳ sau: - Từ 1958 — 1975: Ở miền Bắc, đã xây dựng bảng phân loại đất và điều tra xây dựng hình thổ nhưỡng miền Bắc (Fridland và ctv, 1959). Cùng thời gian này, ở miền Nam, Moorman và các chuyên gia Việt Nam đã tiễn hành phân loại và lập hình đất miền Nam. Tiếp theo đó, cũng là các công trình nghiên cứu phân loại và điều tra đất xây dựng hình đất tỷ lệ lớn cho các tỉnh (Thái Công Tụng và ctv, trích din bởi Hội Khoa học đất Việt Nam, 2000). - Sau tháng 4 năm 1975: Công tác điều tra, phân loại và xây dựng bản đồ đất được đây mạnh ở khắp các vùng trên cả nước.
Ban biên tập bản đồ đất Việt Nam đã xây dựng bảng phân loại và bản đồ đất tỷ lệ 1/1.000 chung cho cả nước; đã nghiên cứu và phô biến bảng phân loại đất tỷ lệ trung bình và lớn xuống khắp các tỉnh. Sau đó, hàng loạt bản đồ đất tỷ lệ 1/250.000 của các vùng đã được xây dựng: Tây Bắc (Lê Thái Bạt và ctv, 1984), Tây Nguyên (Phạm Quang Khánh va ctv, 1989), đồng bằng sông Cửu Long (Tôn Thất Chiêu, Nguyễn Công Pho, Trần An Phong, 1991), Đông Nam Bộ (Phan Liêu và ctv, 1989) (trích dẫn bởi Phạm Quang Khánh và ctv, 1995).