Chương 1 tạo khung nền cho tác giả thực hiện các chương tiếp theo. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ KHẢ NĂNG KHẢ NĂNG TRẢ NỢ CỦA KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 2.1 Cơ sở lý thuyết về khả năng trả nợ của khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa 2.1 Khái niệm tín dụng và phân chia KHDN Tín dụng là hoạt động truyền thống và quan trọng nhất trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Tín dụng chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản, mang lại nguồn lợi nhuận cho cho ngân hàng từ nguồn thu từ lãi vay và cũng là hoạt động rủi ro cao nhất. Thực chất tín dụng là điểm giao nhau giữa bên cho vay và bên cần nguồn vốn, theo nguyên tắc hoàn trả.
Theo luật tổ chức tín dụng 2010: “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng (bên cho vay) giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”.1 Phân loại doanh nghiệp DN SIÊU NHỎ DN NHỎ DN VỪA Đồng thời Đồng thời Đồng thời LĨNH VỰC Nếu Nếu Nếu Nếu Nếu Nếu Lao động sử sử Lao động sử sử Lao động sử sử dụng dụng dụng dụng dụng dụng tiêu tiêu tiêu tiêu tiêu tiêu chí chí chí chí chí chí Doanh Nguồn Doanh Nguồn Doanh Nguồn thu vốn thu vốn thu vốn Nông Từ 10 lao Từ 3 Từ 3 Trên 10 Trên 3 Trên 3 Trên 100 Trên Trên nghiệp, động trở tỷ trở tỷ trở đến 100 tỷ đến tỷ đến đến 200 50 tỷ 20 tỷ 8 lâm xuống xuống xuống lao động 50 tỷ 20 tỷ lao động đến đến nghiệp, 200 tỷ 100 tỷ thủy sản; Công nghiệp, xây dựng Trên Thương Từ 10 lao Từ 10 Từ 3 Trên 10 Trên 3 Trên 3 Trên 50 100 Trên mại, động trở tỷ trở tỷ trở đến 50 đến đến đến 100 50 đến đến dịch vụ xuống xuống xuống lao động 100 tỷ 50 tỷ lao động 300 tỷ 100 tỷ Nguồn: Điều 6, Nghị định số 39/NĐ-CP của Chính phủ ngày 11/03/2018 2.2Đặc điểm cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp Đảm bảo tính hoàn trả về thời gian và giá trị: Ngân hàng là trung gian tài chính, là kênh điều chuyển vốn giữa người cho vay và đi vay. Nguồn vốn để cho các doanh nghiệp vay chủ yếu từ huy động vốn dân cư, các tổ chức có nguồn tiền nhàn rỗi, các khoản huy động này đều có thời hạn nhất định. Dựa vào tính chất thời hạn nguồn tiền huy động và vòng vay vốn của doanh nghiệp, ngân hàng xác định thời gian vay vốn hợp lý và phù hợp. Do đó, các khoản tín dụng của khách hàng doanh nghiệp phải đảm bảo tính hoàn trả về thời gian và giá trị.
Nếu thời gian cấp tín dụng cho khách hàng nhỏ hơn vòng quay vốn của khách hàng thì đến kỳ trả nợ khách hàng chưa có nguồn để trả nợ, ngược lại nếu cấp tín dụng cho khách hàng lớn hơn vòng quay vốn khách hàng thì có thể dẫn tới khách hàng sử dụng nguồn vốn sai mục đích, không kiểm soát được nguồn vốn và mang lại nhiều rủi ro cho ngân hàng. Bảo đảm nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi: Khi kết thúc thời gian vay, hoặc trong thời gian vay bên vay có trách nhiệm phải hoàn trả cả gốc và lãi theo thỏa thuận đã ký trong hợp đồng tín dụng (HĐTD). Phần lãi suất trong HĐTD chính là chi phí sử dụng vốn, đối với ngân hàng là phần lãi phải cho các cá nhân, tổ chức tiền gửi tại ngân hàng, bù đắp các chi phí hoạt động, phần còn lại là lợi nhuận của ngân hàng. 9 Trong trường hợp bên vay không thực hiện đúng cam kết theo thỏa thuận, ngân hàng phải trích lập dự phòng rủi ro từ lợi nhuận của mình để đảm bảo khả năng thanh toán cho người gửi tiền.
Quy mô các khoản vay lớn, số lượng vay ít: Các khoản vay của khách hàng doanh nghiệp thường dùng để tài trợ cho mục đích sản xuất kinh doanh, đầu tư, tùy theo nhu cầu vốn thì các giá trị của khoản vay có thể nhỏ hay lớn Lãi suất cho vay thường thấp hơn so với khách hàng cá nhân Các doanh nghiệp thường muốn tiết kiệm chi phí tài chính, ngoài cho vay, ngân hàng còn khai thác được nhiều dịch vụ từ doanh nghiệp như: huy động vốn, thanh toán lương, chuyển tiền, các giao dịch mua bán ngoại tệ, thu hộ, bán chéo các sản phẩm,. chính những điều đó tạo mối quan hệ tốt đẹp giữa khách hàng và ngân hàng, ngân hàng thường áp dụng mức lãi suất thấp hơn so với niêm yết. Tổn thất khi xảy ra rủi ro: Đối với khách hàng cá nhân vay có tài sản bảo đảm, ngân hàng thường yêu tỷ lệ tài sản là 100%, nhưng đối với doanh nghiệp, tùy theo mức độ tín nhiệm và đánh giá của ngân hàng, có một số doanh nghiệp chỉ cần 20% giá trị tài sản bảo đảm cho các khoản vay, hoặc đối với những doanh nghiệp lớn (được niêm yết trên thị trường chứng khoán, có uy tín ở thị trường trong và ngoài nước), có dòng tiền ổn định, doanh thu tăng trưởng qua các năm, ngân hàng sẵn sàng cho vay tín chấp. Ngoài các tài sản có tính thanh khoản cao như bất động sản, động sản, giấy tờ có giá.
ngân hàng còn nhận thêm các tài sản: hàng tồn kho, quyền đòi nợ,. có tính thanh khoản kém. Do đó, khi rủi ro xảy ra thì các tài sản này khó phát mãi, xử lý nợ, thu hồi vốn. Do đó, mức độ rủi ro tín dụng của doanh nghiệp có mức khá cao.3 Khái niệm về khả năng trả nợ của khách hàng doanh nghiệp Xét mối quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng, “khả năng trả nợ của khách hàng” là việc đánh giá khách hàng có thực hiện đầy đủ và đúng nghĩa vụ nợ cho bên cấp tín dụng (Ngân hàng) trong toàn bộ thời gian quan hệ tín dụng hoặc trong một khoảng thời gian xác định hay không.
Hiện nay, trên thế giới và Việt Nam vẫn chưa có khái niệm thống nhất về “Khả năng trả nợ”. Có một số nghiên cứu đã đưa quan điểm 1 của mình “không có khả năng trả nợ” hay khả năng “không trả được nợ” của một khách hàng. Theo R3-Hiệp hội các chuyên gia phục hồi kinh doanh (2008) 1định nghĩa về khả năng “không trả được nợ của KHDN” là: “Một công ty được xem là không có khả năng trả nợ nếu tài sản của họ ít hơn nợ phải trả hoặc nếu họ không thể thanh toán các khoản nợ khi đến hạn phải trả”. Công ty kiểm toán Pwc (2009) 2định nghĩa “không có khả năng trả nợ” là “Một công ty lâm vào tình trạng không có khả năng trả nợ khi công ty đó không có đủ tài sản đề bù đắp các khoản nợ của mình và, hoặc không thể thanh toán các khoản nợ đến hạn” Còn theo tài liệu của Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng (2006) 3đã đưa ra các điều kiện đánh giá khách hàng không có khả năng trả nợ: - Khách hàng không có khả năng thực hiện nghĩa vụ thanh toán đầy đủ khi đến hạn mà chưa tính đến việc ngân hàng bán tài sản (nếu có) để hoàn trả; - Khách hàng có các khoản nợ xấu có thời gian quá hạn trên 90 ngày.
Trong đó, những khoản thấu chi được xem là quá hạn khi khách hàng vượt hạn mức hoặc được thông báo một hạn mức nhỏ hơn dư nợ hiện tại. Qũy tiền tệ quốc tế (IMF) và Liên hợp quốc cho rằng: “Một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đạ được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ không được thanh toán đầy đủ”. Theo Thông tư số 11/2021/TT-NHNN ngày 30/07/2021 Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài chia nhóm nợ thành 5 nhóm, theo quy ước thế giới thì phải nợ quá hạn >90 ngày : 1 R3-The Association of Business Recovery Professionals, 2008. Insolvency in brief-A guide to insolvency terminology and procedure 3 Basel Committee on Banking Supervision, 2006.
International Convergence of Capital Measurement Capital Standards-A Revised Framework Comprehensive Version. 1 Theo thực trạng thanh toán Theo kết quả Khả năng trả nợ Nhóm nợ nợ XHTD Nhóm 1 - Không có nợ quá hạn Có khả năng - Nợ quá hạn <=10 ngày Theo kết quả XHTD Nhóm 3-5 - Nợ quá hạn >90 ngày nội bộ của TCTD Không có khả năng (Nợ xấu) - Nợ gia hạn Nợ nhóm 1: (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn. Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ. Tuy nhiên, các khoản nợ nhóm này khách hàng vẫn còn khả năng thanh toán nợ.
Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là không có khả năng thu hồi cả nợ gốc và lãi khi đến hạn. Các khoản nợ này được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng tổn thất. Các cam kết ngoại bảng được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là khách hàng không có khả năng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo cam kết. Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng tổn thất cao.
Các cam kết ngoại bảng mà khả năng khách hàng không thực hiện cam kết là rất cao. Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là không có khả năng thu hồi, mất vốn.2 Các mô hình đo lường khả năng trả nợ của khách hàng doanh nghiệp Hiện nay có thể sử dụng nhiều mô hình khác nhau để đánh giá khả năng trả nợ của KHDN, bao gồm các mô hình định lượng và mô hình định tính.