Chương 1: Tổng quan về tín dụng ngân hàng và rủi ro tín dụng ngân hàng. ix - Chương 2: Thực trạng rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Quân đội chi nhánh Hồ Chí Minh. - Chương 3: Giải pháp giảm thiểu rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Quân đội chi nhánh Hồ Chí Minh. 1 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ RỦI RO TÍN DỤNG NGÂN HÀNG GIỚI THIỆU: Chương này làm cơ sở lý luận cho việc phân tích thực trạng rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Quân đội chi nhánh Hồ Chí Minh.
Chương này khái quát về tín dụng ngân hàng và những rủi ro tín dụng trong ngân hàng thương mại, phân loại, nguyên nhân cũng như những thiệt hại nếu xảy ra rủi ro tín dụng. Khái quát về tín dụng trong ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm tín dụng trong ngân hàng thƣơng mại Tín dụng ngân hàng là một hình thức tín dụng vô cùng quan trọng, nó là một quan hệ tín dụng chủ yếu, cung cấp phần lớn nhu cầu tín dụng cho các doanh nghiệp, các thể nhân khác trong nền kinh tế. Với công nghệ ngân hàng hiện nay, tín dụng ngân hàng càng trở thành một hình thức tín dụng không thể thiếu ở cả trong nước và quốc tế.
Theo Luật các tổ chức tín dụng của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, điều 49 ghi: “ Tổ chức tín dụng được cấp tín dụng cho tổ chức, các nhân dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước ”. Quan hệ tín dụng phần lớn được xác lập thông qua hợp đồng tín dụng với trọng tâm là xác định khả năng và ý muốn của người nhận tín dụng trong việc thực hiện hợp đồng. Như vậy, tín dụng ngân hàng là mối quan hệ vay mượn giữa ngân hàng với tất cả các cá nhân, tổ chức và các doanh nghiệp khác trong xã hội. Nó không phải là quan hệ dịch chuyển vốn trực tiếp từ nơi tạm thời thừa sang nơi tạm thời thiếu mà là quan hệ dịch chuyển vốn gián tiếp thông qua một tổ chức trung gian, đó là ngân hàng.
Tín dụng ngân hàng cũng mang bản chất chung của quan hệ tín dụng, đó là quan hệ vay mượn có hoàn trả cả vốn và lãi sau một thời gian nhất định, là quan hệ 2 chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn và là quan hệ bình đẳng cả 2 bên cùng có lợi. Vai tr của tín dụng ngân hàng Đối với bản thân Ngân hàng - Tín dụng ngân hàng mang lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng, nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng. Các khoản tín dụng ngân hàng là hoạt động có tính chiến lược của ngân hàng, mang lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng, đặc biệt là tín dụng trung dài hạn vì có đặc điểm số lượng lớn, lãi suất cao, thời gian dài. Từ đó sẽ giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại.
- Giúp tạo ra và duy trì khách hàng của mình trong tương lai. Bằng việc cấp tín dụng cho khách hàng, ngân hàng đã duy trì và tạo ra các khách hàng của mình trong tương lai. Tín dụng ngân hàng chính là một công cụ hiệu quả để lôi kéo khách hàng mới về phía mình và giữ chân được các khách hàng truyền thống. Đối với khách hàng - Tín dụng là nguồn tài trợ giúp chủ thể vay vốn có điều kiện mở rộng quy mô sản xuất, mở rộng thị trường, đáp ứng nhu cầu vốn cho doanh nghiệp, cá nhân - Tín dụng ngân hàng tạo điều kiện cho các chủ thể vay vốn đổi mới công nghệ, thay đổi cơ cấu sản xuất.
- Tín dụng ngân hàng là trợ thủ đắc lực của chủ thể vay vốn trong việc thỏa mãn và chớp cơ hội sản xuất kinh doanh. Đối với nền kinh tế - Tín dụng ngân hàng tạo điều kiện phát triển các quan hệ kinh tế đối ngoại. Hiện nay trong nền kinh tế toàn cầu, nền kinh tế của một quốc gia không đứng độc lập riêng rẽ mà nằm trong tổng thể của nền kinh tế thế giới và chịu sự ảnh hưởng nhất định của nó. Tín dụng ngân hàng đã trở thành một trong những phương tiện nối kết kinh tế các nước với nhau thông qua các hình thức: tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu, tín dụng hỗ trợ phát triển, cho vay viện trợ.
Vì vậy phát 3 triển tín dụng là nhiệm vụ có ý nghĩa to lớn với sự phát triển kinh tế quốc gia nói riêng và nền kinh tế toàn cầu nói chung. Phân loại tín dụng trong ngân hàng thƣơng mại Theo thời hạn cho vay Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (Luật số: 47/2010/QH12) tín dụng được chia thành: - Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng có thời hạn dưới 1 năm, được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân và thường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong dư nợ tín dụng của các ngân hàng. - Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm. Loại hình tín dụng này thường được các doanh nghiệp sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hay đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án có quy mô nhỏ và thời hạn thu hồi vốn nhanh.
- Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn từ 5 năm trở lên. Loại tín dụng này để đáp ứng nhu cầu dài hạn của các doanh nghiệp: nhu xây dựng nhà xưởng, thiết bị phương tiện vận tải có quy mô lớn, các công trình xây dựng nhà, sân bay, cầu đường. Theo hình thức vốn - Tín dụng bằng tiền: là loại hình tín dụng của ngân hàng mà hình thức vốn tín dụng được thực hiện bằng tiện tệ. Ngân hàng cấp tín dụng bằng tiền và người đi vay cũng trả nợ bằng tiền.
- Tín dụng bằng tài sản: là loại hình tín dụng của ngân hàng mà hình thức vốn tín dụng được thực hiện bằng tài sản. Ngân hàng cấp tín dụng bằng tài sản và người đi vay trả nợ bằng tiền (ví dụ như hình thức thuê mua). Theo bảo đảm tín dụng - Tín dụng không bảo đảm: ngân hàng cấp tín dụng dựa trên cơ sở uy tín, tín nhiệm bản thân khách hàng vay. Người đi vay không cần bất cứ một sự đảm bảo 4 nào bằng tài sản hoặc sự bảo lãnh của bên thứ ba.
Như vậy người đi vay đã bảo đảm cho khoản tín dụng bằng uy tín của họ. - Tín dụng có bảo ðảm: ngân hàng cấp tín dụng dựa trên cơ sở phải có sự bảo đảm bằng tài sản của người đi vay hoặc sự bảo lãnh của chủ thế thứ ba. Tài sản ðảm bảo hoặc chủ thể bảo lãnh trong quan hệ tín dụng chính là nguồn thu nợ của ngân hàng. Theo phƣơng pháp hoàn trả - Tín dụng trả góp: trong hình thức tín dụng này khách hàng vay phải có nghĩa vụ hoàn trả dần vốn gốc và lãi theo định kỳ cho ngân hàng.
Định kỳ có thể là từng năm, từng quý, từng tháng. tùy thuộc vào sự thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng. - Tín dụng phi trả góp: là loại hình tín dụng mà khách hàng vay phải hoàn trả toàn bộ vốn một lần khi đáo hạn cho ngân hàng. - Tín dụng hoàn trả theo yêu cầu: là loại hình cấp tín dụng của ngân hàng mà việc thu nợ của ngân hàng được thực hiện theo yêu cầu hoàn trả của người đi vay trên cơ sở khả năng của người đi vay và trong thời hạn hợp đồng thỏa thuận.
Rủi ro tín dụng trong ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm rủi ro tín dụng Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN, quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN, thông tư số 14/2014/TT-NHNN các văn bản trên quy định về việc phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của các tổ chức tín dụng có nêu rõ: Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng” là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết. Rủi ro tín dụng gắn liền với hoạt động quan trọng nhất có quy mô lớn nhất của ngân hàng thương mại- hoạt động tín dụng. Khi thực hiện một số hoạt động tài trợ cụ thể, ngân hàng phân tích thông tin và để xác định độ tin cậy tín dụng của người vay và chỉ quyết định cho vay khi thấy rủi ro tín dụng không quá cao và có thể chấp 5 nhận được.Tuy nhiên không thể dự đoán được chính xác các vấn đề sẽ xảy ra.
Khả năng hoàn trả tiền vay của khách hàng có thể bị thay đổi do nhiều nguyên nhân, công thêm vào đó nhiều cán bộ ngân hàng không có khả năng phân tích tín dụng thỏa đáng. Do vậy, rủi ro tín dụng là bạn đường trong kinh doanh , có thể đề phòng hạn chế chứ không thể loại trừ. Phân loại rủi ro tín dụng 1. Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro.
- Rủi ro giao dịch: là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch bao gồm rủi ro lựa chọn, rủi ro đảm bảo và rủi ro nghiệp vụ: - Rủi ro lựa chọn: là rủi ro có liên quan đến đánh giá và phân tích tín dụng khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay. - Rủi ro đảm bảo: phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, hình thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo. - Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề.
- Rủi ro danh mục: là rủi ro mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân thành rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. - Rủi ro nội tại: xuất phát từ các yếu tố, đặc điểm riêng bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế.