CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ XẾP HẠNG TÍN DỤNG 1.1 Tổng quan vể khả năng trả nợ của khách hàng Xét trong mối quan hệ tín dụng ngân hàng, “khả năng trả nợ của khách hàng” là việc đánh giá khách hàng có thực hiện đầy đủ và đúng hạn nghĩa vụ nợ cho bên cấp tín dụng trong toàn bộ thời gian quan hệ tín dụng hoặc trong một khoảng thời gian xác định hay không. Phương pháp xác định khả năng trả nợ của khách hàng thường được dựa trên một tiêu chuẩn nhất định do ngân hàng lựa chọn dựa trên đặc điểm của khác hàng như năng lực tài chính, thiện chí trả nợ của khách hàng khi chưa phát sinh nghĩa vụ nợ và/hoặc dựa trên dặc điểm của khoản nợ như lịch sử thanh toán nợ, tình trạng trả nợ thực tế của khách hàng. Hiện tại, trên thế giới chưa có khái niệm thống nhất về khả năng trả nợ của khách hàng, tuy nhiên các tổ chức trên thế giới đã nghiên cứu các biểu hiện của khách hàng được đánh giá là “không có khả năng trả nợ” (hoặc vỡ nợ, mất khả năng trả nợ). Thông qua phương pháp nhận diện khách hàng “không có khả năng trả nợ”, ta thấy rằng các khách hàng còn lại thuộc trường hợp khách hàng “có khả năng trả nợ”.
(Đoàn Thị Xuân Duyên, 2013) Theo Ủy ban Basel (2006), sự vỡ nợ (hay không có khả năng trả nợ – default) của một khách hàng khi xảy ra một hoặc hai dấu hiệu sau: Ngân hàng xét thấy khách hàng không có khả năng thực hiện nghĩa vụ tín dụng của mình một cách đầy đủ, chưa tính đến việc ngân hàng sử dụng các tài sản đảm bảo (nếu có) để đảm bảo cho khoản tín dụng đó. Khách hàng quá hạn trên 90 ngày đối với bất kỳ nghĩa vụ tín dụng đã cam kết với ngân hàng. Theo Moody’s (2007), sự vỡ nợ của một doanh nghiệp xảy ra khi có 3 dấu hiệu sau: Bỏ sót hoặc trễ nãy trong việc chi trả lãi và/hoặc nợ gốc đúng hạn, bao gồm cả việc thanh toán chậm trễ trong thời gian ân hạn; hoặc Doanh nghiệp phá sản, được tiếp quản pháp lý hoặc bị giới hạn pháp lý bởi nhà nước ảnh hưởng đến việc thanh toán đúng hạn lãi và/hoặc nợ gốc; hoặc Doanh nghiệp cung cấp thêm một hay nhiều tài sản đảm bảo tương ứng với các nghĩa vụ tài chính bị suy giảm, hoặc các thỏa thuận khác được đặt ra nhằm 2 giúp doanh nghiệp tránh tình trạng vỡ nợ. Tương tự quan điểm của Moody’s, Standard & Poors (2014) định nghĩa sự vỡ nợ của một doanh nghiệp như sau: Doanh nghiệp không thể chi trả các nghĩa vụ tài chính của mình đúng hạn ngay cả khi thời gian ân hạn chưa hết hạn.
Doanh nghiệp nộp đơn xin phá sản hoặc xảy ra các sự kiện khác làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng trả nợ. Một hoặc nhiều nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp được đảm bảo lại bằng các tài sản khác hoặc được thay thế bởi các công cụ khác có có giá trị thấp hơn ban đầu. Ngoài ra, theo quan điểm Robert Eales và Edmund Bosworth (1998), khi doanh nghiệp không thể thanh toán các nghĩa vụ tài chính một cách đúng hạn thì ngay lập tức sẽ được coi là một sự vỡ nợ. Qua những quan điểm về sự vỡ nợ (hay không có khả năng trả nợ) của các tổ chức uy tín và các chuyên gia trên thế giới, ta có thể thấy điểm chung để nhận biết sự vỡ nợ của doanh nghiệp chính là việc doanh nghiệp có thực hiện nghĩa vụ tài chính (chi trả lãi và/hoặc nợ gốc) của mình một cách đầy đủ và đúng hạn hay không.
Việc khách hàng không có khả năng trả nợ, vỡ nợ sẽ dẫn đến vấn đề nợ xấu của ngân hàng (non-performing loans) và dựa vào định nghĩa của Ủy ban Basel về sự vỡ nợ, ta có thể đo lường được nợ xấu là khoản nợ quá hạn trên 90 ngày. Tương đồng với quan điểm của Ủy ban Basel về thời gian quá hạn của khoản nợ, Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF - International Monetary Fund) định nghĩa một khoản nợ được coi là nợ xấu khi có các dấu hiệu sau: Quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; Hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc đồng ý chậm trả theo thoả thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ không được thanh toán đầy đủ1. Đồng thời IMF phân loại nợ thành 5 nhóm: Nợ đủ tiêu chuẩn (nhóm 1), nợ cần 1 IMF (2006), Accounting Framework and Sectoral Financial Statements , trong Financial Soundness Indicators, (trang 46). 3 chú ý (nhóm 2), nợ dưới tiêu chuẩn (nhóm 3), nợ dưới nghi ngờ (nhóm 4), nợ có khả năng mất vốn (nhóm 5) và nợ xấu là nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5.
Đồng quan điểm trên, Ngân hàng nhà nước Việt Nam quy định một khoản nợ được coi là nợ xấu khi thuộc nhóm 3 đến nhóm 52 và được xác định theo phương pháp định tính và định lượng: Về định tính, nợ nhóm 3 “bao gồm các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn”3. Về định lượng, nợ nhóm 3 có thời gian quá hạn từ 91 ngày đến 1804 ngày và các chỉ tiêu khác. Có thể thấy, nợ xấu thường được xác định dựa trên 2 yếu tố: (i) khoản vay quá hạn trên 90 ngày và (ii) khả năng trả nợ của khách hàng bị nghi ngờ. Đây là quan điểm đang được áp dụng phổ biến trên thế giới.
Có thể nhận thấy các quan điểm trên thế giới thường xem khách hàng phát sinh nợ xấu đồng nghĩa với khách hàng không có khả năng trả nợ.2 Lịch sử ra đời và phát triển của xếp hạng tín dụng. Năm 1909, thuật ngữ xếp hạng tín dụng được John Moody nêu ra lần đầu tiên và tập trung vào việc xếp hạng trái phiếu đường sắt (Alessi Christopher, 2013). Mục đích ban đầu của ông là muốn cung cấp cho nhà đầu tư một hệ thống đơn giản để nhận biết mức độ rủi ro trong đầu tư trái phiếu. Theo thời gian XHTD ngày càng được sử dụng rộng rãi bởi các nhà đầu tư, các công ty, tập đoàn và các tổ chức tài chính do tính hiệu quả trong dự báo rủi ro.
Hiện tại, việc sử dụng xếp hạng tín dụng đã trở thành chuẩn mực và tùy vào góc độ nghiên cứu mỗi tổ chức xếp hạng lại có quan điểm riêng của mình. Ở Việt Nam, thuật ngữ xếp hạng tín dụng đang tồn tại nhiều tên gọi như: xếp hạng tín nhiệm, xếp hạng doanh nghiệp, định dạng tín dụng, xếp hạng khách hàng, phân loại tín dụng.…nhưng bản chất đều nhằm đánh giá mức độ tín nhiệm, khả năng trả nợ trong tương lai của khách hàng dựa trên hệ thống xếp hạng. Trong đề tài này, học viên dùng thuật ngữ “xếp hạng tín dụng”. 2 Điều 3 Thông tư 02/2013/TT-NHNN 3 Điều 11 Thông tư 02/2013/TT-NHNN 4 Điều 10 Thông tư 02/2013/TT-NHNN 4 1.
Các khái niệm về xếp hạng tín dụng 1. Các khái niệm về xếp hạng tín dụng Theo Moody’s, xếp hạng tín dụng là những ý kiến đánh giá trong tương lai về mối quan hệ giữa rủi ro tín dụng và các nghĩa vụ tài chính được cam kết bởi các cá nhân, các công ty, tập đoàn, các tổ chức tài chính và các tổ chức tái cấu trúc tài chính. Theo Standars & Poor, xếp hạng tín dụng là những ý kiến đánh giá tương lai về rủi ro tín dụng, chất lượng tín dụng, khả năng và thiện ý của đối tượng được xếp hạng đối với các cam kết tài chính của mình đầy đủ và đúng hạn. Theo Fitch Ratings, xếp hạng tín dụng là những ý kiến đánh giá và phân tích trong tương lai về rủi ro tín dụng, những ý kiến này dựa trên các thông tin trong quá khứ và xu hướng trong hoàn cảnh hiện tại của một ngành hoặc chu kì kinh tế, do đó có thể dùng để đánh giá khả năng thực hiện các nghĩa vụ tài chính được cam kết bởi chủ thể.
Theo tiến sĩ Nguyễn Đức Hưởng (2012), “xếp hạng tín dụng là những ý kiến đánh giá về rủi ro tín dụng và chất lượng tín dụng thông qua hệ thống xếp hạng nhằm thể hiện khả năng trả nợ của đối tượng được cấp tín dụng để đáp ứng các nghĩa vụ tài chính một cách đầy đủ và đúng hạn”. Qua các quan điểm trên, ta có thể thấy xếp hạng tín dụng đều được hiểu là những quan điểm, ý kiến đánh giá trong tương lai về rủi ro tín dụng nhằm xác định khả năng thực hiện các nghĩa vụ tài chính đã cam kết của đối tượng được xếp hạng. Xếp hạng tín dụng khách hàng vay vốn là việc ngân hàng thương mại đánh giá năng lực tài chính, tình hình hoạt động hiện tại và triển vọng phát triển trong tương lai của khách hàng được xếp hạng, qua đó xác định mức độ rủi ro không trả được nợ và khả năng trả nợ trong tương lai. Đối tượng xếp hạng tín dụng 1.1 Xếp hạng tín dụng cá nhân Là việc xếp hạng các cá nhân tham gia vào hoạt động tín dụng, việc xếp hạng này nhằm đánh giá rủi ro đối với các nghĩa vụ tài chính được cam kết bởi cá nhân đó.
Xếp hạng tín dụng cá nhân được đánh giá dựa trên các yếu tố nhân thân (như 5 tuổi, trình độ học vấn, cơ cấu gia đình, nghề nghiệp, số người phụ thuộc.), khả năng chi trả, lịch sử cấp tín dụng, nhu cầu cấp tín dụng… 1.2 Xếp hạng tín dụng doanh nghiệp: Xếp hạng tín dụng doanh nghiệp là việc đánh giá, xếp loại các doanh nghiệp với phương pháp và các chỉ tiêu nhằm đánh giá khả năng thực hiện các nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp, làm rõ thực chất hoạt động sản xuất kinh doanh cả về nguồn lực, tiềm năng, lợi thế kinh doanh cũng như những rủi ro tiềm ẩn của doanh nghiệp. Xếp hạng tín dụng doanh nghiệp được đánh giá dựa trên các thông tin tài chính và phi tài chính.3 Xếp hạng tín dụng các công cụ đầu tư Xếp hạng các công cụ đầu tư là việc đưa ra những ý kiến, đánh giá mức độ rủi ro của các công cụ đầu tư như: các loại trái phiếu được phát hành bởi các công ty, các định chế tài chính hoặc chính phủ; các cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi v.v… Việc xếp hạng các công cụ này chủ yếu dựa trên một yếu tố như: lãi suất, kì hạn, tính thanh khoản, mệnh giá, hay chính mức tín nhiệm của chủ thể phát hành.