phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung chính luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1. Tổng quan Trong Chƣơng 1, giới thiệu tổng quan về con ngƣời và ngôn ngữ tiếng Bana, từ điển và một số quy luật của tiếng Bana Kriêm. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài. Giải pháp chuyển đổi văn bản PDF sang dạng số Trong Chƣơng 2, các kỹ thuật liên quan đến việc số hoá văn bản đƣợc trình bày một cách cụ thể và chi tiết.
Một số kết quả triển khai sử dụng công cụ số hóa để xây dựng mở rộng kho ngữ liệu Bana Kriêm. Những nội dung nghiên cứu đề xuất giải pháp xây dựng mở rộng kho ngữ liệu Bana Kriêm và kết quả đạt đƣợc Trong Chƣơng 3, giới thiệu các nguồn ngữ liệu, nghiên cứu và xây dựng mô hình đề xuất thu thập dữ liệu, nhận dạng văn bản từ hình ảnh và sửa lỗi ký tự, phƣơng pháp làm giàu dữ liệu. Xây dựng mở rộng kho ngữ liệu Bana Kriêm. Kết quả đạt đƣợc của đề tài.
NỘI DUNG CHÍNH CHƢƠNG 1.1 Một số đặc điểm của tiếng Bana 1.1 Ngƣời Bana Dân tộc Bana là một trong những cƣ dân sinh tụ lâu đời ở Trƣờng Sơn - Tây Nguyên đã kiến lập nên nền văn hoá độc đáo ở đây. Họ là tộc ngƣời có dân số đông nhất, chiếm vị trí rất quan trọng trong các lĩnh vực văn hoá, xã hội ở các cao nguyên miền Trung nƣớc ta. Cũng nhƣ nhiều dân tộc khác ở miền núi, ngƣời Bana có những phong tục tập quán, văn hóa phong phú và giàu bản sắc. Nét đẹp trong văn hóa đƣợc thể hiện ở nhiều mặt, từ hoạt động sản xuất, sinh hoạt hàng ngày đến các lễ hội.
Nghi thức cúng vợt sợi bông của người Bana Trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam, cƣ trú tại 51 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Ngƣời Bana cƣ trú tập trung tại các tỉnh Gia Lai, Kon Tum, miền Tây của tỉnh Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa. Theo số liệu thống kê từ 7 Kết quả toàn bộ của Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, dân số Bana khoảng 286.910 ngƣời, tập trung chủ yếu ở khu vực Tây Nguyên nhƣ: Gia Lai (12.51% dân số tỉnh), Kon Tum (12.73% dân số tỉnh),. và khu vực Duyên hải miền trung nhƣ: Bình Định (1.45% dân số tỉnh), Phú Yên (0.53% dân số tỉnh),.
Người Bana Đồng bào Bana có nhiều tên gọi khác nhau theo địa bàn cƣ trú hay phong tục tập quán mỗi vùng nhƣ Bơ Nâm, Roh, Kon Kđe, Ala Kông, Kpang Kông. Các nhóm địa phƣơng: Rơ Ngao, Rơ Lơng (hay Y Lăng),Tơ Lô, Gơ Lar Krem. Tiếng Bana thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer (thuộc Ngữ hệ Nam Á). Ở mỗi làng có một nhà công cộng là nhà rông to, đẹp đƣợc xây dựng ở giữa làng.
Đây đƣợc coi là trụ sở của làng, nơi các già làng họp bàn việc công, nơi dân làng hội họp, nơi tiến hành các nghi lễ theo phong tục của cộng đồng và cũng là nơi tiếp khách vào làng. Nhà rông của người Bana Ngƣời Bana sống ở nhà sàn. Trƣớc đây khi chế độ gia đình lớn còn thịnh hành, ở vùng ngƣời Bana sinh sống thƣờng có những căn nhà dài hàng trăm mét; tuy nhiên hiện nay chế độ gia đình lớn không còn nữa, mô hình các gia đình nhỏ với những căn nhà sàn gọn gàng xuất hiện ngày càng nhiều, phổ biến. Nhà sàn thƣờng dài từ 7m đến 15m, rộng từ 3m-4m, cao từ 4m-5m, sàn cách mặt đất khoảng 1m đến 1,5m.
Những hình thức trang trí sinh động trên nhà rông và đặc biệt những tƣợng nhà mồ v. mộc mạc, đơn sơ, nhƣng tinh tế và sinh động nhƣ cuộc sống của ngƣời Bana. Trang phục ngƣời Bana có nhiều nét độc đáo. Nam giới Bana mặc áo chui đầu, cổ xẻ.
Đây là loại áo cộc tay, thân áo có đƣờng trang trí sọc đỏ chạy ngang, gấu áo màu trắng. Nam mang khố hình chữ T theo lối quấn ngang dƣới bụng, luồn qua háng rồi che một phần mông. Ngày rét, nam giới Bana mang theo tấm choàng. Trong dịp lễ bỏ mả, nam giới thƣờng búi tóc sau gáy và cắm một lông chim công, tay mang vòng đồng.
Phụ nữ Bana dệt vải Phụ nữ mặc áo chui đầu, không xẻ cổ kết hợp với váy. Váy của phụ nữa Bana không đƣợc may lại mà nó chỉ là một tấm vải đen đƣợc quấn quanh thân dƣới. Phụ nữ Bana ƣa để tóc ngang vai, có khi búi và cài lƣợc hoặc trâm bằng đồng, thiếc. Có nhóm không chít khăn mà chỉ quấn bằng chiếc dây vải hay vòng cƣờm.
Nhóm địa phƣơng ở An Khê, Mang Yang (Gia Lai) hoặc một số nơi khác họ chít khăn trùm kín đầu, khăn chàm quấn gọn trên đầu. Trƣớc đây, họ đội nón hình vuông hoặc tròn trên có thoa sáp ong để khỏi ngấm nƣớc, đôi khi có áo tơi vừa mặc vừa che đầu. Bên cạnh đó, với ngƣời Bana, các phụ kiện là một phần không thể thiếu để tô điểm cho các bộ trang phục. Phụ nữ thƣờng đeo chuỗi hạt cƣờm ở cổ và vòng tay bằng đồng xoắn ốc dài từ cổ đến khủy tay (theo kiểu hình nón cụt).
Nhẫn đƣợc dùng phổ biến và thƣờng đƣợc đeo ở hai, ba ngón tay. 10 Phụ nữ mặc áo chui đầu, không xẻ cổ kết hợp với váy. Váy của phụ nữa Bana không đƣợc may lại mà nó chỉ là một tấm vải đen đƣợc quấn quanh thân dƣới. Phụ nữ Bana ƣa để tóc ngang vai, có khi búi và cài lƣợc hoặc trâm bằng đồng, thiếc.
Có nhóm không chít khăn mà chỉ quấn bằng chiếc dây vải hay vòng cƣờm. Nhóm địa phƣơng ở An Khê, Mang Yang (Gia Lai) hoặc một số nơi khác họ chít khăn trùm kín đầu, khăn chàm quấn gọn trên đầu. Trƣớc đây, họ đội nón hình vuông hoặc tròn trên có thoa sáp ong để khỏi ngấm nƣớc, đôi khi có áo tơi vừa mặc vừa che đầu. Bên cạnh đó, với ngƣời Bana, các phụ kiện là một phần không thể thiếu để tô điểm cho các bộ trang phục.
Phụ nữ thƣờng đeo chuỗi hạt cƣờm ở cổ và vòng tay bằng đồng xoắn ốc dài từ cổ đến khủy tay (theo kiểu hình nón cụt). Nhẫn đƣợc dùng phổ biến và thƣờng đƣợc đeo ở hai, ba ngón tay. Đồng bào Bana chủ yếu sinh sống nhờ nương rẫy Ngƣời Bana sinh sống nhờ sản xuất nông nghiệp, chủ yếu là canh tác nƣơng rẫy. Cùng với trồng trọt, từng gia đình thƣờng có nuôi gia cầm, gia súc 11 nhƣ trâu, bò, dê, lợn, gà.
Chó cũng đƣợc nuôi nhƣng không bị giết thịt. Hầu nhƣ mỗi làng đều có lò rèn. Một số nơi biết làm đồ gốm đơn giản, phụ nữ dệt vải tự túc đồ mặc trong gia đình. Đàn ông đan chiếu, lƣới, các loại gùi, giỏ, mủng.
Việc mua bán theo nguyên tắc hàng đổi hàng, xác định giá trị bằng gà, rìu, gùi thóc, lợn hay nồi đồng, ché, chiêng, cồng, trâu, v. Nghề dệt thổ cẩm của ngƣời Bana có từ lâu đời. Các sản phẩm từ thổ cẩm đƣợc trang trí bởi những hoa văn tinh tế, đa dạng sản phẩm nhƣ: Váy - áo của phụ nữ, khăn, tấm choàng để địu con, áo - khố của đàn ông. Ngoài ra, nghề đan lát, nghệ thuật chạm khắc gỗ cũng rất phát triển.
Tục hôn nhân của ngƣời Bana cho phép nam nữ tự do tìm hiểu nhau, việc cƣới xin đều theo nếp cổ truyền. Vợ chồng trẻ ở luân phiên mỗi bên một thời gian theo thỏa thuận giữa 2 gia đình. Sau khi sinh con đầu lòng thì dọn nhà riêng. Lễ hội của người Bana Trong kho tàng văn nghệ dân gian ngƣời Bana có những làn điệu dân ca, điệu múa độc đáo trong các ngày hội, nghi lễ tôn giáo và bộ nhạc cụ đa 12 dạng nhƣ những bộ cồng chiêng có kết cấu khác nhau: đàn t‘rƣng, klông pút, kơni; kèn: tơ nốt, arơng, tơ tiếp.
Hiện nay, cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, đồng bào Bana đã từng bƣớc loại bỏ những luật tục lạc hậu nhƣ tục cà răng căng tai, phạt vạ… Đồng thời tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nƣớc nhƣ xây dựng nông thôn mới, xóa đói giảm nghèo…từng bƣớc nâng cao đời sống vật chất, tinh thần. Ngƣời Bana ở Vĩnh Thạnh, An Lão, một số xã ở Hoài Ân, thuộc nhóm Bana Kriêm. Theo đồng bào Bana ở Vĩnh Thạnh, tên gọi Kriêm, ban đầu là tên con sông Ðăc Kriêm; ngƣời Bana Kriêm – ngƣời Bana sống quanh con sông Kriêm, ở vùng thấp. Ngƣời dân Bana Kriêm cũng cho rằng, về nguồn gốc, Bana Kriêm vốn từ khu vực Gia Lai chuyển đến.
Múa cồng chiêng trong lễ hội đâm trâu ở Vĩnh Thạnh. Ngƣời Bana Kriêm thuộc 1 trong 7 dòng Bana. Ngƣời Bana Kriêm ở Vĩnh Thạnh còn giữ đƣợc nhiều nét văn hoá tộc ngƣời đặc thù hơn cả. Cuộc sống của ngƣời Bana Kriêm gắn liền với nƣơng rẫy, núi rừng.
Đồng bào rất 13 nhiệt tình, cởi mở, thân thiện. Hòa vào nhịp sống hiện đại, nhiều giá trị văn hóa đã dần mai một. Do vậy, việc lƣu giữ, bảo tồn văn hóa truyền thống là điều vô cùng cần thiết.2 Ngôn ngữ tiếng Bana Ngƣời Bana nói tiếng Bana thuộc Ngữ chi Bana là một ngôn ngữ thuộc Ngữ hệ Nam Á (Austroasiatic) (hay còn gọi ngôn ngữ Môn-Khmer) đƣợc sử dụng ở các cộng đồng không chỉ ở vùng Tây Nguyên và Duyên hải Việt Nam mà còn ở nam Lào và đông Campuchia, cùng với đó là Ngữ chi Bana và Ngữ chi Việt-Mƣờng đƣợc xếp vào ngôn ngữ Môn-Khmer. Về mặt ngôn ngữ, tiếng Bana về cơ bản thống nhất trong cơ cấu ngữ âm, ngữ pháp.
Tuy nhiên, do quá trình biến đổi lịch sử, do tiếp xúc với các ngôn ngữ khác nhau, tiếng nói của mỗi nhóm địa phƣơng có sự khác biệt về cách phát âm, và một số về từ vựng. Các phƣơng ngữ chính tiếng Bana gồm: Bana Kon Tum, Bana An Khê, và Bana Tơ lo, Bana Kon Kơ Ðeh, Bana Kriêm; giữa các phƣơng ngữ trên, tìm thấy sự khác biệt rõ rệt giữa Bana Kon Tum, Bana Gia lai (An Khê) và Bana Bình Ðịnh (Bana Kriêm).3 Từ điển Bana Kriêm Hình 1. Từ điển chữ Bana Kriêm Bình Định 14 Hình 1. Bảng Chữ cái và Dấu tiếng Bana Dấu: ―'‖ – (dấu ―phẩy trên‖) và dấu ― ‖ (dấu ―vành trăng khuyết‖) Cách ghi các nguyên âm: a, ă, e, ĕ, ê, ê , i, ĭ, o, ŏ, ô, ô , ơ, ơ , u, , ƣ, ƣ , ƣơ Cách ghi các phụ âm đơn: b, 'b, ch, d, đ, g, h, i, j, k, kh, l, m, n, nh, ng, p, ph, r, s, t, th, u, w, y.