Chương 1: Giới thiệu và đưa ra cái nhìn tổng quan về Tái thiết kế quy trình nghiệp vụ tập trung vào đối tượng. • Chương 2: Cơ sở lý thuyết nền tảng về BPMN, ACP, các giải thuật giải thuật xóa và di chuyển tác vụ. • Chương 3: Trình bày các usecase, thiết kế cơ sở dữ liệu theo ER diagram, Class Diagram • Chương 4: Trình bày các công cụ, thư viện và ngôn ngữ hiện thực hệ thống. • Chương 5: Giới thiệu về công ty Atadi, trình bày mô hình quy trình nghiệp vụ và mô tả các đối tượng liên quan, các luật phân lớp và luật nghiệp vụ, kết quả thu được sau khi chạy các giải thuật và áp dụng các bộ luật.
• Chương 6: Thực nghiệm và đánh giá kết quả sau khi chạy các giải thuật và áp dụng các bộ luật. • Chương 7: Tổng kết lại toàn bộ quá trình thực hiện, kết quả đạt được, những hạn chế và hướng mở rộng trong tương lai. Tổng quan về BPMN Business Process Model and Notation – BPMN là ngôn ngữ mô hình hóa trực quan cho các ứng dụng trong phân tích nghiệp vụ. BPMN cung cấp cho các doanh nghiệp khả năng hiểu các thủ tục nghiệp vụ nội bộ của doanh nghiệp dưới dạng ký hiệu đồ họa và sẽ cung cấp cho các tổ chức khả năng truyền đạt các thủ tục này theo cách chuẩn.
Hơn thế nữa, ký hiệu đồ họa sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự hiểu biết về hoạt động hợp tác và giao dịch kinh doanh giữa các tổ chức. Điều này sẽ đảm bảo rằng các doanh nghiệp sẽ hiểu bản thân và những người tham gia vào hoạt động kinh doanh của họ. Các thành phần của BPMN 2. Participants trong Camunda Participants được xem là yếu tố đặc trưng của BPMN, cũng chính Participants là điểm làm cho BPMN khác biệt so với các diagram khác.
Participants bao gồm Pool và Lane:[7] [6] BMPN, web-based tooling for BPMN, DMN and Forms. [7] Visual Paradigm, BPMN Activity Types Explained 17 • Pool thể hiện một tổ chức, một bộ phận, một phòng ban, một vai trò hoặc một hệ thống nào đó. Một Pool có thể có nhiều Lane. • Lane thể hiện các cá nhân riêng lẻ, người sẽ làm các hoạt động cụ thể.
Activities trong BPMN Activity thể hiện một hoạt động của một cá thể (được thể hiện bởi lane). Hoạt động này có thể đơn giản (chỉ 1 hành động duy nhất) hoặc phức tạp (tách được ra thành 1 tập các hành động khác nhau).[7] ❖ Task Task – Tác vụ là một hoạt động nguyên tử trong quy trình. Một tác vụ được tạo ra khi hoạt động đó không thể chia nhỏ hơn nữa hay còn gọi là hoạt động đơn giản. Tác vụ trong BPMN được chia thành ba loại khác nhau [7]: Hình 3.
Các loại Task trong BPMN • Loop: tác vụ lặp • Compensation: tác vụ cho phép quay về trạng thái ban đầu nếu tác vụ xử lý thất bại [7] Visual Paradigm, BPMN Activity Types Explained 18 • Multiple Instance: tác vụ xử lý nhiều công việc cùng lúc (xử lý song song) Bên cạnh đó, còn có một số ký hiệu bổ sung ngữ nghĩa cho tác vụ. Bao gồm: Hình 4. Một số kí hiệu bổ sung cho Task • Service Task là một tác vụ sử dụng dịch vụ Web, ứng dụng tự động hoặc các loại dịch vụ khác để hoàn thành tác vụ. • Send Task là một tác vụ gửi tin nhắn để một Pool khác.
Tác vụ được hoàn thành khi tin nhắn đã được gửi đi. • Receive Task là tác vụ chỉ ra rằng quá trình phải đợi một tin nhắn đến để tiếp tục. Tác vụ được hoàn thành sau khi nhận được thông báo. • User Task là tác vụ thể hiện người thực hiện sẽ hoàn thành tác vụ bằng cách sử dụng ứng dụng phần mềm.
• Manual Task là tác vụ được thực hiện mà không có sự hỗ trợ của bất kỳ công cụ thực thi quy trình nghiệp vụ nào hoặc bất kỳ ứng dụng nào. • Business Rule Task là tác vụ mới được thêm vào BPMN 2. Nó cung cấp một cơ chế cho một quy trình để cung cấp đầu vào cho Công cụ quy tắc nghiệp vụ và lấy đầu ra do Công cụ quy tắc nghiệp vụ cung cấp. • Script Task được thực thi bởi một công cụ xử lý nghiệp vụ.
Tác vụ xác định một tập lệnh mà công cụ có thể diễn giải. Khi tác vụ bắt đầu, công cụ sẽ thực thi tập lệnh. Tác vụ sẽ được hoàn thành khi hoàn thành tập lệnh. 19 ❖ Sub-process Trong BPMN, Sub-process là một hoạt động tổng hợp đại diện cho một tập hợp các tác vụ và quy trình con khác.
Nói chung, biểu đồ BPMN được tạo ra để giao tiếp các quy trình với những người khác. Để tạo điều kiện giao tiếp hiệu quả, không nên lập một sơ đồ quy trình nghiệp vụ quá phức tạp. Bằng cách sử dụng Sub-process, bạn có thể chia một quy trình phức tạp thành nhiều cấp, cho phép bạn tập trung vào một khu vực cụ thể trong một sơ đồ quy trình duy nhất [7]. ❖ Call Activity Call Activity tham chiếu đến một hoạt động được xác định trong một quy trình nằm ngoài định nghĩa quy trình hiện tại.
Nó cho phép tạo một định nghĩa quy trình có thể sử dụng lại trong nhiều định nghĩa quy trình khác. Flow Flow là các mũi tên thể hiện đường đi của quy trình. Trong BPMN có một số loại flow như: Hình 5. Một số loại Flow trong BPMN [7] Visual Paradigm, BPMN Activity Types Explained 20 • Sequence flow: là đường đi của quy trình, bắt đầu từ task/sub-process này đến task/sub-process kia.
• Default flow: Luồng đi mặc định của hệ thống, nếu không có gì khác thường hệ thống sẽ luôn đi theo đường này. • Message flow: Luồng thông tin được trao đổi giữa các lane hoặc Pool với nhau. • Conditional flow: Luồng này đi kèm với một điều kiện cụ thể, khi đạt điều kiện thì quy trình mới đi theo luồng này. Gateway Gateway xác định luồng nào được thực hiện thông qua một quy trình kiểm soát luồng của cả Luồng tuần tự phân kỳ và hội tụ.
Nghĩa là, một Gateway có thể có nhiều luồng đầu vào và nhiều luồng đầu ra. Thuật ngữ “Gateway” ngụ ý rằng có một cơ chế kiểm soát cho phép hoặc không cho phép đi qua cổng. Trong BPMN, có thể chia Gateway thành các loại sau [7]: Hình 6. Các loại Gateway trong BPMN • Exclusive Gateway ( hoặc cổng XOR ) được sử dụng để tạo các đường dẫn thay thế trong luồng quy trình.
Đối với một phiên bản nhất định của quy trình, chỉ một trong các luồng có thể được thực hiện. Khi luồng công việc thực thi đến cổng này, tất cả các dòng trình tự gửi đi được đánh giá [7] Visual Paradigm, BPMN Activity Types Explained 21 theo thứ tự mà chúng được xác định. Luồng trình tự có điều kiện đánh giá là True được chọn để lan truyền luồng mã thông báo. • Event-based Gateway cũng có thể được sử dụng để khởi tạo một quy trình.
Trong trường hợp này, biểu tượng của Event-based Gateway chỉ có một vòng tròn duy nhất trong hình thoi. Khi được sử dụng để bắt đầu quy trình, Event-based Gateway cho phép quy trình bắt đầu theo một số cách dựa trên sự kiện kích hoạt nó. Bên cạnh đó, Event-based Gateway còn được sử dụng để phân nhánh một quy trình khi các luồng thay thế được xác định bởi các sự kiện ( các messages hoặc tín hiệu khác nhau ) chứ không phải bởi các luồng có điều kiện. • Parallel Gateway được sử dụng để đại diện cho hai task trong một quy trình kinh doanh.
Một Parallel Gateway được sử dụng để trực quan hóa việc thực hiện đồng thời các hoạt động. Một Parallel Gateway mô hình hóa một nhánh rẽ thành nhiều luồng thực thi hoặc một kết hợp của nhiều luồng thực thi đến. o Fork: tất cả các luồng trình tự được theo sau song song, tạo ra một thực thi đồng thời cho mỗi luồng trình tự. o Join: tất cả các thực thi đồng thời đến Parallel Gateway đợi ở cổng cho đến khi quá trình thực thi hoàn tất cho mỗi luồng trình tự đến.
• Inclusive Gateway chỉ định một hoặc một vài luồng thực thi có sẵn sẽ được thực hiện. Tất cả các luồng có thể thực hiện hoặc chỉ một trong số chúng. • Complex Gateway cho phép đưa ra quyết định rõ ràng hơn trong quy trình nghiệp vụ. Nhiều yếu tố, quy tắc và phân tích đều có thể kết hợp lại để mang lại kết quả phù hợp.
Việc phân tích phải dẫn đến ít nhất một luồng luôn được thực hiện. Event Event là một phần tử phổ biến của BPMN đại diện cho một điều gì đó “xảy ra” trong một quy trình. Trong BPMN, các Event được biểu diễn dưới dạng vòng tròn. Event cho biết thời điểm một số sự kiện xảy ra ở đầu, kết thúc hoặc trong một quá trình [7].
Các loại Event chính trong BPMN • Start Event: xảy ra lúc bắt đầu quy trình. • Intermediate Event: xảy ra ở giữa của quy trình. • End Event: xảy ra khi kết thúc quy trình. [7] Visual Paradigm, BPMN Activity Types Explained 23 2.
Business Process Re-Design 2. Tổng quan về Business Process Re-Design Tái thiết kế quy trình nghiệp vụ là việc thiết kế lại quy trình nghiệp vụ, các quy trình quan trọng để đạt được các mục tiêu cụ thể như tăng lợi tức đầu tư, cải tiến dịch vụ hoặc giảm chi phí, thời gian. Đó có thể là bất kỳ quy trình nghiệp vụ nào, có thể là quy trình sản xuất, bán hàng hoặc quản lý tài chính có thể được làm lại để đạt được hiệu quả mong muốn. Thông thường, việc tái thiết kế một quy trình sẽ có tác động trực tiếp đến các quy trình khác của doanh nghiệp.
Tái thiết kế quy trình nghiệp vụ không chỉ là vấn đề cải thiện những gì đã có. Nó ngụ ý một số hình thức thay đổi căn bản. Thông thường, các công ty sẽ tập hợp một nhóm dự án và thiết kế lại tổ chức, mục tiêu chiến lược, quy trình từ đầu với sự trợ giúp của các chuyên gia tư vấn quy trình. Họ có thể tìm cách để tăng năng suất, giảm thời gian vận hành, nâng cao chất lượng sản phẩm, chất lượng dịch vụ cao hơn, triển khai các công nghệ mới, cơ cấu lại và sắp xếp các nhóm hợp lý hơn.
Trong một doanh nghiệp, các đối tượng nghiệp vụ về cơ bản nắm bắt khía cạnh thông tin của một doanh nghiệp. Việc tính đến đối tượng nghiệp vụ khi tái thiết kế trở nên sâu sắc hơn. Nói cách khác, chúng cần được dựa trên các thuật toán tái thiết kế kết hợp với các khối bao gồm các dữ liệu đã được khai thác và các tác vụ của quy trình.