Chương 1: Tổng quan nghiên cứu ứng dụng công nghệ tài chính vào ngành viễn thông qua công tác triển khai sản phẩm Mobile Money Chương 2: Phương pháp nghiên cứu 4 Chương 3: Thực trạng ứng dụng công nghệ tài chính vào dịch vụ viễn thông tại Tổng Công ty Viễn thông MobiFone: Sản phẩm MobiFone Money Chương 4: Giải pháp thúc đẩy sự phát triển MobiFone Money và công nghệ tài chính vào dịch vụ Viễn thông tại Tổng Công ty Viễn thông MobiFone. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ TÀI CHÍNH VÀO NGÀNH VIỄN THÔNG QUA CÔNG TÁC TRIỂN KHAI SẢN PHẨM MOBILE MONEY 1. Tổng quan nghiên cứu Ứng dụng Fintech vào hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc các dịch vụ khách hàng đã trở thành một phần không thể thiếu với bất kì doanh nghiệp nào, từ các ngân hàng cho đến các đế chế như lớn Apple, Amazon,. hay các Startup mới nổi như Airbnb, Uber, Grab khi người tiêu dùng ngày càng chuyển sang các hình thức kỹ thuật số cho việc quản lý tài chính của họ.
Không nằm ngoài xu thế đó, các doanh nghiệp ngành viễn thông lớn tại Việt Nam hay trên thế giới cũng đã và đang sử dụng Fintech vào công việc kinh doanh của mình để giữ chân khách hàng, đặc biệt là các khách hàng trẻ. Nhiều công trình nghiên cứu về việc ứng dụng Fintech vào đã nêu bật sự quan trọng về lĩnh vực mới mẻ này, tiêu biểu như: Peter Gomber (2018), nghiên cứu về những thay đổi về công nghệ giúp quản lý hoạt động trong dịch vụ tài chính; ứng dụng thực tế của công nghệ tiền điện tử, blockchain và thanh toán xuyên biên giới; dịch vụ cho vay và tiền gửi, cho vay ngang hàng (P2P); các vấn đề liên quan đến đầu tư, thị trường tài chính, giao dịch, quản lý rủi ro, và cuối cùng các dịch vụ bị ảnh hưởng bởi sự đổi mới của blockchain và Fintech. Nghiên cứu cho rằng Fintech là một cuộc cách mạng về dịch vụ tài chính mà trong đó bất kì công ty lớn nào nếu không thể tìm ra cách kết nối hiệu quả với “Cuộc cách mạng Fintech” sẽ bị đe dọa sự thống trị lâu dài trong ngành. Anne- Laure Mention (2019) nghiên cứu về tương lai của Fintech, khi các tổ chức tài chính lớn cùng các cơ quan quản lý tham gia vào phát triển Fintech.
Các quy định cũng như hành lang pháp lý cụ thể cho các ứng dụng Fintech giúp nó phát triển trong khuôn khổ nhưng đồng thời cũng hạn chế sự sáng tạo, nhất là đối với các công ty startup trong lĩnh vực này. Nghiên cứu dự báo rằng trong tương lai khi càng nhiều ứng dụng từ Fintech đưa vào thực tế đời sống, các cơ quan quản lý và các công ty lớn sẽ định hình ngành này, với các hệ thống quy định và chuẩn mực đầy đủ. 6 Nguyễn Xuân Phong (2019) nghiên cứu cơ sở lý luận về công nghệ tài chính và ứng dụng công nghệ tài chính trong hoạt động kinh doanh ngân hàng. Đánh giá thực trạng ứng dụng công nghệ tài chính trong hoạt động kinh doanh ngân hàng tại Việt Nam.
Từ đó đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường tính ứng dụng công nghệ tài chính trong hoạt động kinh doanh ngân hàng tại Việt Nam. Nguyễn Thị Huyền Thương (2020) hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về công nghệ 4.0, hoạt động môi giới chứng khoán tại Việt Nam, các Nội dung đánh giá đánh giá chất lượng dịch vụ môi giới chứng khoán trước và sau khi ứng dụng công nghệ 4.0, từ đó đưa ra những ưu, nhược điểm trong công tác ứng dụng công nghệ 4.0 vào hoạt động môi giới chứng khoán, đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả công tác ứng dụng công nghệ 4.0 vào hoạt động môi giới chứng khoán. Ngoài ra, luận văn còn đề xuất một số kiến nghị lên Bộ tài chính, Ủy ban chứng khoán Việt Nam nhằm đề xuất các phương án nhằm phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam thông qua việc triển khai mạnh mẽ ứng dụng 4.0 trong giao dịch môi giới chứng khoán, giảm thiểu sức người sức của. Nguyễn Quang Khải (2020), đánh giá hệ sinh thái Fintech tại Việt Nam, tham khảo kinh nghiệm tại các nước trên thế giới, điển hình là Singapore.
Hành lang Pháp lý đầy đủ, đặc biệt có các chính sách hợp lý trong quản lý tiền ảo, cho vay ngang hàng,… vẫn đang là chủ đề tranh cãi và chưa có hồi kết. Luận văn tiếp cận phương pháp nghiên cứu định tính để phù hợp hướng mô tả những tình huống từ các khía cạnh khác nhau. Thông qua kết quả nghiên cứu, đề tài mô phỏng được bức tranh chung về Fintech và thực trạng phản ứng chính sách tại Việt Nam, nhận diện các tình huống từ lĩnh vực này Việt Nam đang phải đối mặt, cụ thể: một mặt không thể là “người đi cuối cùng” trong tiếp cận Fintech nhưng mặt khác phải lường trước các rủi ro có thể xảy đến để hạn chế các biến tướng phát sinh. Mạnh dạn trong thí điểm Sandbox, quản lý tiền ảo, cho vay ngang hàng,… Yoonyoung Hwang, Sangwook Park, Nina Shin (2021), nghiên cứu về bảo mật trong các ứng dụng thanh toán di động sử dụng nền tảng Fintech.
Nghiên cứu này đánh giá vai trò các yếu tố quyết định thành công về khía cạnh bảo mật của một 7 dịch vụ thanh toán di động với nền tảng Fintech. Người dùng ngày càng có nhận thức cao về tầm quan trọng của bảo mật, nhưng cũng mong muốn về sự tiện lợi, khả năng tương tác của các ứng dụng Mobile Payment. Hầu hết các doanh nghiệp viễn thông lớn tại Việt Nam đã phát triển Mobile Payment, với Mobile Fone chính là Mobile Fone Money. Sản phẩm MobiFone Money là một sản phẩm thiết thực đối với thị trường Việt Nam.
Đây là một sản phẩm tương tự như ví điện tử, được lập dựa trên tài khoản định danh Viễn thông của nhà mạng MobiFone. Các yếu tố năng lực cạnh tranh cũng như tính ứng dụng công nghệ tài chính vào sản phẩm có điểm sai khác tương đối so với các sản phẩm đã được nghiên cứu trước đó. Từ việc kế thừa lý thuyết từ các nguồn tham khảo và các đề tài luận văn trên, tác giả dự kiến sẽ vận dụng để phân tích thực trạng ứng dụng công nghệ tài chính vào Dịch vụ viễn thông qua sản phẩm MobiFone Money, từ đó đánh giá thành công, hạn chế và nguyên nhân thực trạng nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng cung cấp dịch vụ MobiFone Money, từ đó làm tiền đề để phát triển công tác ứng dụng công nghệ tài chính vào Dịch vụ Viễn thông tại MobiFone cho các sản phẩm trong tương lai. Tổng quan về công nghệ tài chính 1.
Định nghĩa về công nghệ tài chính Hiện tại, chưa có một định nghĩa thống nhất trên toàn cầu cho “Fintech”. Tuy nhiên, thuật ngữ "Fintech", là dạng viết tắt của cụm từ “financial technology” (công nghệ tài chính), thường biểu thị các công ty hoặc đại diện các công ty kết hợp các dịch vụ tài chính với các công nghệ hiện đại, sáng tạo. Như một quy ước, những công ty mới gia nhập vào thị trường sẽ cung cấp các sản phẩm dựa trên Internet theo hướng ứng dụng. Các công ty Fintech thường hướng tới thu hút khách hàng bằng các sản phẩm và dịch vụ thân thiện với người dùng, hiệu quả hơn, minh bạch hơn và tự động hơn so với những sản phẩm và dịch vụ đã có.
Ngoài cung cấp các sản phẩm và dịch vụ trong lĩnh vực ngân hàng, Fintech còn phân phối bảo hiểm và các công cụ tài chính khác hoặc cung cấp các dịch vụ 8 bên thứ ba. Theo nghĩa rộng của thuật ngữ, "Fintech" còn có thể bao gồm các công ty cung cấp công nghệ (ví dụ như các giải pháp phần mềm) cho các nhà cung cấp dịch vụ tài chính. Tuy vậy, không thể định nghĩa thuật ngữ "Fintech" dựa trên cơ sở ứng dụng của nó trong các văn bản pháp luật. Các công ty Fintech là đối tượng của nhiều loại nghĩa vụ pháp lý và pháp luật khác nhau do có các mô hình kinh doanh khác nhau cũng như các sản phẩm hay dịch vụ đa dạng mà họ cung cấp.
Ví dụ, các công ty trong ngành công nghiệp huy động vốn cộng đồng (crowdinvesting) cung cấp các khoản vay hợp vốn (profit-participating loan), quyền hợp vốn không đảm bảo hoặc quan hệ đối tác im lặng (silent partnership) để đảm bảo tài chính doanh nghiệp thì thuộc phạm vi của Luật Đầu tư của Đức. Tuy nhiên, các tổ chức phát hành thẻ thanh toán trên cùng các nền tảng crowdinvesting này sẽ phải tuân theo Luật Giao dịch Chứng khoán của Đức nếu cổ phiếu được bán cho công chúng. Cuối cùng, không thể xây dựng một định nghĩa hạn hẹp về “Fintech" để áp dụng cho tất cả các thực thể thường được liên kết với thuật ngữ “Fintech”. Mặc dù hầu hêt các công ty trong ngành công nghiệp Fintech có một số tính năng chung nhất định, vẫn sẽ luôn có những ngoại lệ để khiến cho không thể tạo ra một định nghĩa chung.
Ví dụ, rất nhiều công ty Fintech mới đang trong giai đoạn khởi nghiệp. Tuy nhiên, vì không phải tất cả các công ty Fintech đều là các công ty khởi nghiệp, nên việc phân loại này không thể đóng góp vào định nghĩa Fintech. Do đó thay vì cố gắng đưa ra một định nghĩa hạn hẹp hay theo khía cạnh pháp lý, thì việc phác họa ra các phân khúc của ngành công nghiệp Fintech có thể sẽ mang lại hình dung tốt nhất về Fintech. Đặc điểm công nghệ tài chính 1.
Cách thức hoạt động Cho đến nay, các tổ chức dịch vụ tài chính cung cấp nhiều loại dịch vụ khác nhau. Phạm vi của các dịch vụ này bao gồm một phạm vi rộng lớn từ các hoạt động ngân hàng truyền thống đến các dịch vụ thế chấp và giao dịch. Ở dạng cơ bản nhất, Fintech gộp các dịch vụ này thành các dịch vụ riêng lẻ. Sự kết hợp giữa các dịch vụ 9 hợp lý với công nghệ cho phép các công ty Fintech hoạt động hiệu quả hơn và cắt giảm chi phí liên quan đến mỗi giao dịch.
Nếu một từ có thể mô tả bao nhiêu đổi mới Fintech đã ảnh hưởng đến giao dịch, ngân hàng, tư vấn tài chính và sản phẩm truyền thống, thì đó là „sự gián đoạn‟, giống như các sản phẩm và dịch vụ tài chính từng là lĩnh vực của các chi nhánh, nhân viên bán hàng và máy tính để bàn chuyển sang thiết bị di động hoặc đơn giản là dân chủ hóa tránh xa các tổ chức lớn, cố thủ. Fintech hoạt động dựa trên trí tuệ nhân tạo, nó được xem như một chú robot có thể nhận diện, thống kê, thiết lập nhu cầu của khách hàng thông qua các thuật toán.