Chương 1: Tổng quan. Chương 2: Cơ sở lý thuyết. Chương 3: Ứng dụng bù nối tiếp đồng bộ kiểu tĩnh D-SSSC để ổn định hệ thống lưới điện phân phối. Chương 4: Nghiên cứu ứng dụng hệ thống quản lý dữ liệu đo đếm lưới điện phân phối huyện Tuy An.
Chương 5: Kết luận và hướng phát triển. 5 Luan van Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Tổng quan về bù công suất phản kháng (CSPK) lưới phân phối 2. Sự tiêu thụ công suất phản kháng 2.
Khái niệm về công suất phản kháng Xét sự tiêu thụ năng lượng trong một mạch điện đơn giản có tải là điện trở và điện kháng như hình 2.1: Mạch điện đơn giản RL. Mạch điện được cung cấp bởi điện áp: u= Um.sinωt Dòng điện i lệch pha với điện áp u một góc φ: i = Im.sin(ωt – φ) hay i = Im.cosωt) Có thể coi:i = i’ + i’’, với: i’ = Im .sin(ωt –π/2) Như vậy dòng điện i là tổng của hai thành phần: i’ có biên độ Im.cosφ cùng pha với điện áp u.sinφ chậm pha với điện áp một góc π/2. Công suất tương ứng với hai thành phần i’ và i’’ là: P = U.cosφ gọi là công suất tác dụng.sinφ gọi là công suất phản kháng. 6 Luan van Từ công thức trên ta có thể viết: R P = U.1) Z Vậy: Công suất tác dụng P là công suất có hiệu lực biến năng lượng điện thành ra các dạng năng lượng khác và sinh ra công.2) Z Vậy: Công suất phản kháng Q của một nhánh nói lên cường độ của quá trình dao động năng lượng.
Hay công suất phản kháng là thành phần công suất tiêu thụ trên điện cảm hay phát ra trên điện dung của mạch điện. Ta có thể biểu diễn quan hệ giữa P và Q như hình 2.2: Quan hệ giữa công suất P và Q. Trong mạng điện có các thành phần mang tính điện kháng hay điện dung sẽ sử dụng công suất đặc biệt được gọi là công suất phản kháng. Ngược lại với công suất tác dụng, công suất phản kháng có thể được phục hồi sau khi đã được hấp thụ.
Sự tiêu thụ công suất phản kháng Công suất phản kháng được tiêu thụ ở: động cơ không đồng bộ, máy biến áp, trên đường dây tải điện và ở các phần tử, thiết bị có liên quan đến từ trường. Yêu cầu về công suất phản kháng chỉ có thể giảm đến mức tối thiểu chứ không thể triệt tiêu được vì nó cần thiết để tạo ra từ trường, yếu tố trung gian cần thiết trong quá trình chuyển hóa điện năng. Sự tiêu thụ công suất phản kháng trên lưới điện có thể phân chia một cách gần đúng như sau [13]: 7 Luan van - Động cơ không đồng bộ tiêu thụ khoảng (60 – 65) %. - Máy biến áp tiêu thụ khoảng (22 – 25) %.
- Đường dây tải điện và các phụ tải khác 10%. Động cơ không đồng bộ - Động cơ không đồng bộ là thiết bị tiêu thụ công suất phản kháng chính trong lưới điện. Chế độ làm việc của nó ảnh hưởng đến giá trị tiêu thụ công suất phản kháng, có lúc giá trị nhu cầu công suất phản kháng lớn hơn công suất tác dụng của nó. - Công suất phản kháng của động cơ không đồng bộ gồm hai thành phần: + Một phần nhỏ công suất phản kháng được sử dụng để sinh ra từ trường tản trong mạch điện sợ cấp: Q1 = miI12 X1và mạch điện thứ cấp Q2 = mi I22 X2 với mi là số pha.
Hoặc có thể tính theo catalog của thiết bị: P 1 I0 (tgφđm - Qtt = Q1 + Q2 = Pđm .3) Trong đó: - P: công suất tải thực tế động cơ. - Pđm , Cosđm , Iđm: là công suất, hệ số công suất, dòng điện định mức của động cơ. - đm :hiệu suất của động cơ theo định mức. - I0: dòng điện không tải.
+Phần lớn công suất phản kháng còn lại dùng để sinh ra từ trường khe hở: Qµ = miI0Xm Hay tính theo catalog của thiết bị: I0 Pđm Qµ = .Cos đm - Một số lưu ý đối với động cơ không đồng bộ: 8 Luan van + Khi điện áp tăng, sự tiêu thụ công suất phản kháng tăng do mức độ từ hóa tăng và tản từ tăng do vậy việc tăng điện áp vận hành chưa đảm bảo tổn thất giảm. + Đối với những động cơ công suất nhỏ, do tăng một cách tương đối khe hở không khí giữa rôto và stato làm tăng lượng tản từ, do vậy công suất phản kháng tăng. + Động cơ có tốc độ thấp, hiệu suất kém, tiêu thụ công suất phản kháng tăng. Máy biến áp - MBA tiêu thụ khoảng 22 đến 25% nhu cầu công suất phản kháng tổng của lưới điện, nhỏ hơn nhu cầu của các động cơ không đồng bộ do công suất phản kháng dùng để từ hóa lõi thép máy biến áp không lớn so với động cơ không đồng bộ, vì không có khe hở không khí.
Nhưng do số thiết bị và tổng dung lượng lớn, nên nhu cầu tổng CSPK của MBA cũng rất đáng kể. - CSPK tiêu thụ bởi MBA gồm hai thành phần: + Công suất phản kháng được dùng để từ hóa lõi thép không phụ thuộc vào tải: I 0 %.5) 100 Với: Sđm: dung lượng định mức của máy biến áp. I0%: dòng điện không tải tính theo % của dòng điện định mức máy biến áp. - Công suất phản kháng tản từ máy biến áp phụ thuộc vào tải: uN % Qtt =β 2 S đm 100 (2.6) Với: β hệ số mang tải của máy biến áp.
UN% điện áp ngắn mạch phần trăm. Đèn huỳnh quang 9 Luan van - Thông thường các đèn huỳnh quang vận hành có một chấn lưu để hạn chế dòng điện. Tuy theo điện cảm của chấn lưu, hệ số công suất chưa được hiệu chỉnh cosφ của chấn lưu nằm trong khoảng 0,3 đến 0,5. - Các đèn huỳnh quang hiện đại có bộ khởi động điện từ, hệ số công suất chưa được hiệu chỉnh Cosφ thường gần bằng 1.
Do vậy không cần hiệu chỉnh hệ số công suất của thiết bị này. Tuy nhiên, khi các thiết bị điện tử này khởi động thì sinh ra các sóng hài. Các nguồn phát công suất phản kháng Khả năng phát CSPK của các nhà máy điện là rất hạn chế, do Cosφ của nhà máy từ 0,85 – 0,9 hoặc cao hơn nữa. Vì lý do kinh tế người ta không chế tạo các máy phát có khả năng phát nhiều CSPK cho phụ tải.
Các máy phát chỉ đảm đương một phần nhu cầu CSPK của phụ tải, phần còn lại do các thiết bị bù đảm trách (Máy bù đồng bộ, tụ điện). Ngoài ra trong hệ thống điện nói chung, phải kể đến một nguồn phát CSPK nữa, đó là các đường dây tải điện, đặc biệt là các đường cáp và đường dây siêu cao áp. Tuy nhiên ở đây ta chỉ xét đến lưới phân phối, do vậy chỉ lưu ý đến các trường hợp đường dây 35 kV dài và các đường cáp ngầm. Tuy nhiên CSPK phát ra từ các phần tử này cũng không đáng kể nên nguồn phát CSPK chính trong lưới phân phối vẫn là tụ điện, động cơ đồng bộ và máy bù.1 Các nguồn phát công suất phản kháng Máy bù đồng bộ Máy bù đồng bộ là loại máy điện đồng bộ chạy không tải dùng để phát hoặc tiêu thụ CSPK.
Máy bù đồng bộ là phương pháp cổ truyền để điều chỉnh liên tục CSPK. Các máy bù đồng bộ thường được dùng trong hệ thống truyền tải, chẳnghạn ở đầu vào các đường dây tải điện dài, trong các trạm biến áp quan trọng và trong các trạm biến đổi dòng điện một chiều cao áp. Nếu ta tăng dòng điện kích từ ikt lên (quá kích thích, dòng điện của máy bù đồng bộ sẽ vượt trước điện áp trên cực của nó một góc 900) thì máy phát ra CSPK Qb phát lên mạng điện. Ngược lại, nếu ta giảm dòng kích từ ikt (kích thích non, E < 10 Luan van U, dòng điện chậm sau điện áp 900) thì máy bù sẽ biến thành phụ tải tiêu thụ CSPK.
Vậy máy bù đồng bộ có thể tiêu thụ hoặc phát ra CSPK. Các máy bù đồng bộ ngày nay thường được trang bị hệ thống kích thích từ nhanh có bộ kích từ chỉnh lưu. Có nhiều phương pháp khởi động khác nhau, một phương pháp hay dùng là khởi động đảo chiều. Tụ điện tĩnh Tụ điện tĩnh là một đơn vị hoặc một dãy đơn vị tụ nối với nhau và nối song song với phụ tải theo sơ đồ hình sao hoặc tam giác, với mục đích sản xuất ra CSPK cung cấp trực tiếp cho phụ tải, điều này làm giảm CSPK phải truyền tải trên đường dây.
Tụ bù tĩnh cũng thường được chế tạo không đổi (nhằm giảm giá thành). Khi cần điều chỉnh điện áp có thể dùng tụ điện bù tĩnh đóng cắt được theo cấp, đó là biện pháp kinh tế nhất cho việc sản xuất ra CSPK. Tụ điện tĩnh cũng như máy bù đồng bộ làm việc ở chế độ quá kích CSPK trực tiếp cấp cho hộ tiêu thụ, giảm được lượng CSPK truyền tải trong mạng, do đó giảm được tổn thất điện áp. CSPK do tụ điện phát ra được tính theo biểu thức sau: Q.7) Trong đó: U có đơn vị là kV.
f tần số có đơn vị là Hz C là điện dung có đơn vị là μF. Khi sử dụng tụ điện cần chú ý phải đảm bảo an toàn vận hành, cụ thể khi cắt tụ ra khỏi lưới phải có điện trở phóng điện để dập điện áp. Các tụ điện bù tĩnh được dùng rộng rãi để hiệu chỉnh hệ số công suất trong các hệ thống phân phối điện như: hệ thống phân phối điện công nghiệp, thành phố, khu đông dân cư và nông thôn. Một số các tụ bù tĩnh cũng được đặt ở các trạm truyền tải.
11 Luan van Tụ điện là loại thiết bị điện tĩnh, làm việc với dòng điện vượt trước điện áp. Do đó có thể sinh ra công suất phản khánh Q cung cấp cho mạng. Tụ điện tĩnh cónhững ưu điểm sau: - Suất tổn thất công suất tác dụng bé, khoảng (0,003 – 0,005) kW/kVAr. - Không có phần quay nên lắp ráp bảo quản dễ dàng.
- Tụ điện tĩnh được chế tạo thành từng đơn vị nhỏ, vì thế có thể tùy theo sự phát triển của phụ tải trong quá trình sản xuất mà điều chỉnh dung lượng cho phù hợp. Song tụ điện tĩnh cũng có một số nhược điểm sau: - Nhược điểm chủ yếu của chúng là cung cấp được ít CSPK khi có rối loạn hoặc thiếu điện, bởi vì dung lượng của công suất phản kháng tỷ lệ bình phương với điện áp: U2 Q I2. C - Tụ điện có cấu tạo kém chắc chắn vì vậy dễ bị phá hỏng khi xảy ra ngắn mạch.