CHƯƠNG 1: GIAO DỊCH TRONG THƯƠNG MẠI B2B 1.1 Thương mại B2B 1.1 Định nghĩa “B2B” viết tắt của thuật ngữ Business To Business – là mô hình kinh doanh thương mại điện tử trong đó giao dịch xảy ra trực tiếp giữa các doanh nghiệp với nhau. Giao dịch của các công ty thường được bắt đầu từ các giao tiếp điện tử, trong đó có giao tiếp qua các sàn giao dịch điện tử. Sự phát triển của cách mạng khoa học - công nghệ, nhất là công nghệ thông tin, đã dẫn đến sự xuất hiện một phương thức kinh doanh thương mại hoàn toàn mới, đó là thương mại điện tử (E. Theo nghĩa rộng, thương mại điện tử bao gồm mọi giao dịch tài chính và thương mại bằng các phương tiện điện tử.
Theo nghĩa hẹp, thương mại điện tử chỉ gồm các hoạt động thương mại, được thực hiện thông qua mạng internet và các mạng viễn thông khác. Thương mại điện tử ngày càng tỏ rõ tính ưu việt, chiếm thị phần lớn trên thị trường thế giới. Nó đem lại lợi ích cho cả người sản xuất, doanh nghiệp và người tiêu dùng, rút ngắn khoảng cách giữa các doanh nghiệp và các nước trên thế giới.2 Các loại hình và phương thức giao dịch A. Các loại hình giao dịch Trong hoạt động thương mại điện tử có 5 loại giao dịch điện tử : Giao dịch giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp (B2B- business to business) là loại hình giao dịch qua các phương tiện điện tử giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp.
Theo Tổ chức Liên hợp quốc về Hợp tác và Phát triển kinh tế (UNCTAD), giao dịch B2B chiếm tỷ trọng lớn trong thương mại điện tử (khoảng 90%). Các giao dịch B2B chủ yếu được thực hiện trên các hệ thống ứng dụng thương mại điện tử như mạng giá trị gia tăng; dây chuyền 13 cung ứng hàng hoá, các sàn giao dịch thương mại điện tử. Các doanh nghiệp có thể chào hàng, tìm kiếm bạn hàng, đặt hàng, ký kết hợp đồng, thanh toán qua các hệ thống này. Ở mức độ cao, các giao dịch này có thể diễn ra một cách tự động.
Thương mại điện tử B2B đem lại nhiều lợi ích thực tế cho doanh nghiệp, đặc biệt giúp giảm các chi phí về quảng cáo, tiếp thị và tăng các cơ hội kinh doanh. Giao dịch giữa doanh nghiệp với khách hàng (B2C- business to consumer) là loại hình giao dịch giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng qua các phương tiện điện tử. Doanh nghiệp sử dụng các phương tiện điện tử để bán hàng, cung cấp dịch vụ tới người tiêu dùng. Người tiêu dùng thông qua đó để lựa chọn, đặt hàng, thanh toán, nhận hàng.
Giao dịch B2C tuy chiếm tỷ trọng ít (khoảng 10%) trong thương mại điện tử nhưng phạm vi ảnh hưởng lại rất rộng. Để tham gia hình thức kinh doanh này, thông thường doanh nghiệp sẽ thiết lập website, hình thành cơ sở dữ liệu về hàng hoá, dịch vụ rồi tiến hành các quy trình tiếp thị, quảng cáo, phân phối trực tiếp tới người tiêu dùng. Thương mại điện tử B2C đem lại lợi ích cho cả doanh nghiệp lẫn người tiêu dùng. Doanh nghiệp tiết kiệm nhiều chi phí do không cần cửa hàng hay thuê người giới thiệu, kéo theo chi phí quản lý cũng giảm.
Người tiêu dùng sẽ cảm thấy thuận tiện vì không phải đến cửa hàng vẫn có thể lựa chọn và so sánh nhiều mặt hàng cùng một lúc. Giao dịch giữa doanh nghiệp với cơ quan nhà nước (B2G- business to government) là loại hình giao dịch giữa doanh nghiệp với cơ quan nhà nước, trong đó cơ quan nhà nước đóng vai trò là khách hàng. Quá trình trao đổi thông tin giữa doanh nghiệp với cơ quan nhà nước được tiến hành qua các phương tiện điện tử. Cơ quan nhà nước cũng có thể thiết lập những website tại đó đăng tải thông tin về nhu cầu mua hàng, tiến hành việc đấu thầu hàng hoá, dịch vụ và lựa chọn nhà cung cấp trên website.
Điều này giúp tiết kiệm 14 các chi phí tìm nhà cung cấp, đồng thời tăng tính minh bạch trong hoạt động mua sắm Giao dịch trực tiếp giữa các cá nhân với nhau (C2C- consumer to consumer) là loại hình giao dịch giữa các cá nhân với nhau. Sự phát triển của các phương tiện điện tử làm cho nhiều cá nhân có thể tham gia hoạt động thương mại với tư cách là người bán hoặc người mua. Một cá nhân có thể tự thiết lập website để kinh doanh hoặc sử dụng một website có sẵn để giới thiệu số mặt hàng mình có. C2C góp phần tạo nên sự đa dạng của thị trường.
Giao dịch giữa cơ quan nhà nước với cá nhân (G2C- government to consumer) là loại hình giao dịch giữa cơ quan nhà nước với cá nhân. Đây chủ yếu là các giao dịch mang tính hành chính, nhưng có thể mang những yếu tố của thương mại điện tử. Ví dụ như khi người dân đóng tiền thuế qua mạng, trả phí khi đăng ký hồ sơ trực tuyến, v. Phương thức giao dịch Thư điện tử (electronic mail, viết tắt là e-mail) là dịch vụ chuyển thư dưới dạng số trên mạng máy tính thông qua các hộp thư điện tử.
Với sự ra đời của mạng máy tính, đặc biệt là Internet, thư điện tử đã giúp việc trao đổi thông tin được thực hiện nhanh chóng và chính xác hơn. Các doanh nghiệp, các cơ quan nhà nước sử dụng thư điện tử để gửi thư một cách “trực tuyến” thông qua mạng. Thông tin trong thư điện tử không phải tuân theo một cấu trúc nào. Thanh toán điện tử (electronic payment) là hình thức thanh toán tiền thông qua internet.
Bạn có thể tiến hành và quản lý mọi giao dịch thông qua một hệ thống thanh toán với một chiếc máy vi tính, một trình duỵêt và kết nối mạng. Toàn bộ quá trình từ lúc khách hàng đặt hàng, thanh toán cho đến khi bạn gửi hàng, nhận tiền và cảm ơn khách hàng đều được tự động hoá. Ngày 15 nay, với sự phát triển của thương mại điện tử, thanh toán điện tử đã mở rộng sang các lĩnh vực mới như: - Trao đổi dữ liệu điện tử tài chính (Financial Electronic Data Interchange, gọi tắt là FEDI) chuyên phục vụ cho việc thanh toán điện tử giữa các công ty giao dịch với nhau. - Tiền lẻ điện tử (Internet Cash) là tiền mặt được mua từ một nơi phát hành, sau đó được chuyển đổi tự do sang các đồng tiền khác thông qua Internet, áp dụng trong cả phạm vi một nước cũng như giữa các quốc gia; tất cả đều được thực hiện bằng kỹ thuật số hóa, vì thế tiền mặt còn có tên gọi là “tiền mặt số hóa” (digital cash).
Tiền lẻ điện tử đang trên đà phát triển nhanh, nó có ưu điểm nổi bật là dùng để thanh toán những món hàng giá trị nhỏ; có thể tiến hành giữa hai con người hoặc hai công ty bất kỳ; tiền nhận được đảm bảo là tiền thật. Ví điện tử (electronic purse) là nơi để tiền mặt trên internet, chủ yếu là thẻ thông minh (smart card), còn gọi là thẻ giữ tiền (stored value card); kỹ thuật của túi tiền điện tử tương tự như kỹ thuật áp dụng cho “tiền lẻ điện tử”. Nó giống như "ví tiền" của bạn trên Internet và đóng vai trò như 1 chiếc ví tiền mặt trong thanh toán trực tuyến, giúp bạn thực hiện công việc thanh toán các khoản phí trên internet một cách nhanh chóng, đơn giản. Thẻ thông minh, nhìn bề ngoài như thẻ tín dụng, nhưng ở mặt sau của thẻ, có gắn chíp điện tử là một bộ nhớ để lưu trữ tiền số hóa, tiền ấy chỉ được “chi trả” khi chủ thẻ sử dụng hoặc có thư yêu cầu.
Sự an toàn và tiện lợi chính là mục tiêu mà ví điện tử nhắm tới. Ví điện tử ra đời góp phần phát triển hệ thống kinh doanh thương mại điện tử, đem lại những lợi ích cho người mua, người bán, ngân hàng và xã hội. Giao dịch điện tử của ngân hàng (digital banking) mạng xã hội đã và đang phát triển thành kênh thông tin quan trọng với các ngân hàng trong việc 16 tiếp cận, tìm hiểu phản ứng của khách hàng từ đó tác động đến tâm lý người tiêu dùng. Mạng xã hội đã trở thành một trong những nguồn thông tin quan trọng đối với những ngân hàng có tầm nhìn chiến lược để “chạy đua” cùng cuộc cách mạng công nghệ số.
Với hành lang pháp lý ổn định, ngày càng nhiều khách hàng lựa chọn giao dịch thông qua kênh điện tử, một số ngân hàng đã chủ động biến ngân hàng số thành một lợi thế cạnh tranh để phát triển tại thị trường Việt Nam. Hệ thống thanh toán điện tử của ngân hàng là một hệ thống lớn gồm nhiều hệ thống nhỏ: - Thanh toán giữa ngân hàng với khách hàng qua điện thoại, tại các điểm bán lẻ, giao dịch cá nhân tại các gia đình, giao dịch tại trụ sở khách hàng, giao dịch qua Internet, chuyển tiền điện tử, thẻ tín dụng, hỏi đáp thông tin - Thanh toán giữa ngân hàng với các đại lý, của hàng, siêu thị - Thanh toán nội bộ một hệ thống ngân hàng. - Thanh toán liên ngân hàng Trao đổi dữ liệu điện tử (electronic data interchange, viết tắt là EDI) là việc trao đổi các dữ liệu dưới dạng “có cấu trúc” (stuctured form), từ máy tính này sang máy tính khác, giữa các công ty hoặc đơn vị đã thỏa thuận buôn bán với nhau, tự động hóa hoàn toàn không cần có sự cân thiệp của con người. Theo Ủy ban liên hợp quốc về luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) : “Trao đổi dữ liệu điện tử (EDI) là việc chuyển giao thông tin từ máy tính này sang máy tính khác bằng phương tiện điện tử, có sử dụng một tiêu chuẩn đã được thỏa thuận để cấu trúc thông tin”.
EDI chủ yếu phục vụ cho việc mua bán và phân phối hàng hóa có thể rút ngắn thời gian từ lúc bắt đầu giao dịch cho đến khi thanh toán kết thúc, bằng cách gửi đi những thông tin cần thiết và tránh được sự trùng lặp trong cả quá trình giao dịch nên ngày càng được sử dụng rộng rãi trên toàn cầu. Khi giao dịch được thực hiện bằng EDI, hệ thống 17 máy tính sẽ hoạt động như một kho lưu trữ dữ liệu để hỗ trợ các giao dịch. Toàn bộ quá trình diễn ra trong vài phút mà không cần phải gõ lại thông tin và tránh cho các bên những phiền toái về giấy tờ đi kèm với việc xử lý văn bản bằng tay. Sử dụng EDI sẽ giúp tăng giá trị khoản đầu tư cho việc ứng dụng phần mềm giao dịch.
Hơn nữa việc tạo, gửi và nhận các chứng từ giao dịch EDI có thể được tự động hoá và tích hợp với những ứng dụng máy tính hiện hành trong nội bộ công ty hoặc tổ chức.