CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ BỆ PHẢN ÁP. Nền đường đắp Nền đường nói chung là một công trình bằng đất, có tác dụng khắc phục địa hình tự nhiên nhằm tạo nên một dải đủ rộng dọc theo tuyến đường có các tiêu chuẩn về bình đồ, trắc dọc, trắc ngang và làm cơ sở cho áo đường. Nền đường gồm có loại nền đường đào, nền đường đắp và nền đường nửa đào nửa đắp. Về cơ bản, cấu tạo trắc ngang của nền đường đắp như hình 1.
Trắc ngang của nền đường đắp (1 - nền đất tự nhiên; 2 - nền đường đắp) Trong hình 1.1 ký hiệu: B và H là chiều rộng và chiều cao nền đắp; 1/m là độ dốc ta luy nền đắp. Hiện nay, bề rộng nền đường ô tô được thiết kế B 6,0 m [6]; thông thường độ dốc ta luy đắp được chọn 1/1,5. Chiều cao nền đường đắp tối thiểu phải từ 1,2 ÷ 1,5 m kể từ chỗ tiếp xúc với đất yếu [1]. Các hướng dẫn và yêu cầu thiết kế, thi công nền đường ô tô ở Việt Nam trong tiêu chuẩn: Đường ô tô - Yêu cầu thiết kế - TCVN 4054:2005 và các tài liệu khác [2], [3].
Nói chung nền đường cần đảm bảo các yêu cầu sau: - Nền đường phải đảm bảo ổn định toàn khối, tức là không để xảy ra các hiện tượng: trượt lở mái ta luy; trượt trồi lún sụp nền đắp trên nền đất yếu… - Nền đường phải đảm bảo có một cường độ nhất định và đảm bảo ổn định về cường độ. Theo [4], [5], cho thấy trong -4- quá trình xây dựng và sử dụng, nền đường có thể bị phá hoại, không đạt được các yêu cầu trên với nhiều nguyên nhân khác nhau. Nền đất yếu 1. Khái niệm đất yếu Theo [6], [7], [8], thì đất yếu là các loại đất có thể có các nguồn gốc khác nhau (khoáng vật hoặc hữu cơ) và điều kiện hình thành khác nhau (trầm tích ven biển, vịnh biển, đầm hồ, đồng bằng tam giác châu thổ hoặc hình thành do đất tại chỗ ở những vùng đầm lầy có mực nước ngầm cao, có nước tích đọng thường xuyên…) nhưng đều có các đặc trưng dưới đây: - Cường độ chống cắt nhỏ và thường tăng lên theo độ sâu; - Biến dạng nhiều (lún nhiều) khi chịu tác dụng của tải trọng ngoài và biến dạng tuỳ thuộc thời gian chất tải; - Tính thấm nước kém (hệ số thấm nhỏ) và thay đổi theo sự biến dạng của đất yếu; - Hệ số rỗng lớn; - Đất ở trạng thái bão hoà hoặc gần bão hoà nước.
Theo [1] thì ở nước ta định nghĩa đất yếu như sau: - Loại có nguồn gốc khoáng vật, thường là sét hoặc á sét trầm tích, hàm lượng hữu cơ có thể tới 10 ÷ 12%. Ở trạng thái tự nhiên, độ ẩm gần bằng hoặc cao hơn giới hạn chảy, hệ số rỗng lớn (sét thì e 1,5, á sét thì e 1), lực dính đơn vị theo kết quả cắt nhanh không thoát nước Cu < 15 kPa, góc ma sát trong = 0 ÷ 10o, hoặc theo kết quả thí nghiệm cắt cánh hiện trường cu < 35 kPa. Ngoài ra, còn có đất yếu dưới dạng bùn cát, bùn cát mịn (hệ số rỗng e > 1, độ bão hòa G > 0,8). - Loại có nguồn gốc hữu cơ, thường gọi là đất đầm lầy than bùn, hàm lượng hữu cơ chiếm tới 20 ÷ 80%.
Nói chung, khái niệm đất yếu được hiểu giống nhau ở các nước [8]. Nền đất yếu ở Việt Nam Theo [5], cho thấy Việt Nam có diện tích không nhỏ thành tạo đất yếu, đặc biệt là các vùng đồng bằng alluvi của sông Hồng, sông Cửu Long và đồng bằng ven biển miền Trung. Đất yếu thường gặp là các loại đất sét mềm, bùn và than bùn. Ngoài ra ở một số vùng còn gặp loại đất có ở nhiều tính chất của loại đất lún sập như đất ba -5- zan ở Tây Nguyên, và thỉnh thoảng còn gặp các vỉa cát chảy là những loại đất yếu có các đặc trưng riêng biệt.
Thực tế của những năm xây dựng các công trình cho thấy móng của nhiều công trình công nghiệp, dân dụng, giao thông, thuỷ lợi… đặt trên nền đất yếu. Hiện tượng mất ổn định của nền đường đắp trên đất yếu Ổn định của đất là tương quan giữa độ bền, khả năng chịu tải của đất đối với các lực và các đặc trưng gây phá hoại trong đất do tải trọng bản thân của đất và tải trọng ngoài gây ra. Ổn định tổng thể của nền đường và nền đất yếu dưới nền đường có thể bị mất nếu các điểm phân tố mất ổn định đã xảy ra trong một vùng đáng kể [5]. Xét theo điều kiện ổn định của nền đất yếu dưới nền đường đắp có thể nêu lên hai trường hợp mất ổn định thường gặp sau: - Mất ổn định theo dạng phình trồi: đây là trường hợp nền đường chưa bị xé rách nhưng bị võng xuống và đẩy đất yếu phình lên hai bên chân ta luy, như hình 1.
Với trường hợp này vùng phá hoại (chứa các điểm mất ổn định) trong nền đất yếu đã xuất hiện nhưng chưa đạt tới mức có thể gây ra một mặt trượt liên lục xé rách nền đất yếu và nền đường. Các dạng mất ổn định của nền đường đắp trên nền đất yếu (a - dạng phình trồi; b - dạng trượt trồi) - Mất ổn định theo dạng trượt trồi: trong trường hợp này đã xảy ra một mặt trượt liên tục làm xé rách nền đường và đẩy đất yếu trượt trồi lên phía chân ta luy, -6- như hình 1. Vùng phá hoại trong nền đất yếu đã vượt quá mức giới hạn tương ứng cho ổn định tổng thể của nền đường trên đất yếu. Nguy cơ mất ổn định càng lớn khi đất yếu phân bố ngay trên bề mặt thoáng và dễ xảy ra trong và ngay sau quá trình đắp nền đường (khi đất yếu chưa kịp cố kết) [8], [9].
Các tiêu chuẩn trên thế giới đều đưa ra yêu cầu đầu tiên khi xây dựng nền đắp trên đất yếu là không được để xảy ra mất ổn định. Vì đất yếu có độ bền thường nhỏ hơn nhiều so với đất đắp nền đường, nên khi đánh giá mức độ ổn định tổng thể của nền đường trên đất yếu người ta thường dựa vào sức chịu tải - tải trọng giới hạn của nền đất yếu dưới tác dụng của tải trọng nền đường đắp [5]. Tải trọng của nền đường đắp tác dụng lên nền đất tự nhiên. Người ta thường tách riêng phần móng đặt trên nền đất tự nhiên để xem xét và gọi ứng suất tiếp xúc hay ứng suất đáy móng là tải trọng trực tiếp tác dụng lên nền đất.
Đối với nền đất tự nhiên chịu tác dụng tải trọng nền đường đắp, thì tải trọng nền đường đắp được xem là tải trọng móng mềm [2], [10], [11], [12]. Trị số áp lực tại mỗi điểm trên mặt thoáng chính bằng trọng lượng cột đất ở trên đó. Do nền đường đắp thường có chiều dài lớn hơn rất nhiều so với chiều rộng và nền đất tự nhiên là bán không gian vô hạn, cho nên có thể xét bài toán phẳng để nghiên cứu. Khi đó tải trọng nền đường đắp tác dụng lên nền đất, như hình 1.1 là tải trọng thẳng đứng (ứng suất đáy nền đường đắp) phân bố có dạng hình thang, tức là hình dạng mặt cắt của nền đường.
Trạng thái ứng suất và tải trọng giới hạn của nền đất 1. Cân bằng đàn hồi và cân bằng dẻo 1. Đất là vật liệu đàn - dẻo lý tưởng. - Để làm cơ sở cho sự phân tích ổn định của khối đất, đất được giả thiết có quan hệ giữa ứng suất và biến dạng như hình 1.3 sau: Khi chịu tải, quan hệ ứng suất và biến dạng là tuyến tính trong phạm vi Oa và khi ứng suất đạt đến trị số ứng với điểm a thì đường quan hệ ứng suất - biến dạng song song với trục biến dạng (đường ab).
Vật liệu có đặc tính như vậy được gọi là vật thể đàn - dẻo lý tưởng: giai đoạn đầu là đàn hồi và sau là chảy dẻo (biến dạng dẻo). Mô hình đàn - dẻo lý tưởng Sự cân bằng của đất ứng xử trong giai đoạn đàn hồi gọi là sự cân bằng đàn hồi (cân bằng bền). Sự cân bằng với trạng thái ứng suất biến dạng ứng với điểm a (hoặc đoạn ab) trong hình là sự cân bằng dẻo (cân bằng giới hạn). - Theo thuyết bền Mohr – Coulomb đối với đất nêu lên rằng: “cường độ chống cắt của đất tăng tuyến tính với ứng suất pháp và đất tại một nơi nào đó trong khối đất sẽ bị phá hoại nếu vòng tròn Mohr tại nơi ấy tiếp xúc với đường Coulomb của đất”.
Vòng tròn Mohr tiếp xúc với đường Coulomb được quy ước gọi là vòng tròn Mohr giới hạn. Một điểm nào đó ở trong nền đất ở trạng thái cân bằng bền thì: s tg c (1.1) Trong đó: , - các thành phần ứng suất tiếp và ứng suất pháp trên mặt đang xét; s - cường độ chống cắt của đất; c, - lực dính đơn vị và góc ma sát trong của đất. Ở trạng thái cân bằng giới hạn thì: s tg c (1.2) Như vậy, đất nền là đủ sức chịu tải thì các ứng suất phát sinh trong nền đất dưới tác dụng của tải trọng phải thỏa mãn được điều kiện bền Mohr – Coulomb như sau: -8- f k tg c 0 (1.3) với: f(k) - gọi là giá trị bền, giá trị này không thể lớn hơn 0, bởi vì khi f(k) = 0 thì điểm ở trong đất đã bắt đầu mất ổn định. Tuy vậy, theo thì điều kiện bền Mohr - Coulomb phù hợp với đất cát.
Với đất sét, điều kiện này áp dụng cũng tương đối phù hợp, nhưng phải xem xét ảnh hưởng của áp lực nước lỗ rỗng, mà áp lực này lại là một hàm của thời gian, vì vậy cường độ chống cắt cũng là một hàm của thời gian. - Theo lý thuyết đàn hồi, khi đất ứng xử trong giai đoạn đàn hồi, trạng thái ứng suất tại một điểm nào đó trong khối đất (bài toán phẳng) được đặc trưng bằng ba thành phần ứng suất x, z, xz theo các phương trong hệ trục x0z, hình 1. Các thành phần ứng suất phải thoả mãn hai điều kiện: điều kiện cân bằng tĩnh và điều kiện liên tục. Ứng suất tác dụng trên phân tố đất Từ điều kiện cân bằng tĩnh ta có: z xz z x x xz 0 (1.4) x z trong đó: - trọng lượng thể tích của đất.