CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÁC HIỆP ƯỚC BASEL VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG 1. Lý luận về rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng 1. Khái niệm rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng 1. Rủi ro tín dụng Căn cứ vào Nghị định số 34/2018/NĐ-CP, Quy định về phân loại nợ, trích lập và dự phòng để xử lí rủi ro, theo quyết định số 57/2019/TT-BTC ngày 26/08/2019 của Thống đốc NNHN thì “RRTD trong hoạt động ngân hàng của TCTD là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của TCTD, do khách hàng không thực biện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết.” Theo Thông tư 41/2016/TT-NHNN thì rủi ro tín dụng là rủi ro do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng hoặc thỏa thuận với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Rủi ro tín dụng gồm 2 loại rủi ro: Rủi ro giao dịch là là rủi ro liên quan đến từng khoản tín dụng mà ngân hàng quyết định cho vay khoản tín dụng mới cho khách hàng trong hoạt động giao dịch về xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng, bao gồm: - Rủi ro lựa chọn: là rủi ro liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, để ngân hàng quyết định phương án đó có hiệu quả và quyết định cấp vốn. - Rủi ro tài sản đảm bảo: Rủi ro do sơ hở trong khâu TSBĐ và những cam kết ràng buộc quy định trong hợp đồng tín dụng như các loại TSBĐ và mức cho vay trên TSBĐ đó, chủ thể đảm bảo,… - Rủi ro nghiệp vụ: liên quan đến hoạt động quản lí khoản vay và hoạt động cho vay như phát sinh do sai sót ở các khâu đánh giá, thẩm định và xét duyệt khi 10 quyết định cho vay, phát sinh do không giám sát chặc chẽ trong quá trình sử dụng vốn vay, sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kĩ thuật xử lí các khoản vay khi có vấn đề. Rủi ro danh mục là những rủi ro liên quan đến việc hạn chế quản lí kết hợp nhiều khoản tín dụng trong danh mục tín dụng của ngân hàng. Bao gồm: Rủi ro nội tại: Xuất phát từ các yếu tố, đặc điểm riêng, mang tính riêng biệt của mỗi chủ thể đi vay trong ngành và từng lĩnh vực kinh tế mà họ sản xuất kinh doanh.
Nó xuất phát đặc điểm sử dụng vốn vay của khách hàng vay. Rủi ro tập trung: Khi ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng; cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế, hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định, cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao. Như vậy rủi ro là điều không thể loại bỏ trong hoạt động ngân hàng của TCTD, vấn đề quan trọng của TCTD là nghiên cứu ra các biện pháp để hạn chế, phòng ngừa, lượng hóa rủi ro để bù đắp bằng suất sinh lời của TCTD. Quản trị rủi ro tín dụng Có nhiều khái niệm về quản trị RRTD và hầu hết các khái niệm đều mô tả quá trình thực hiện quản trị RRTD, có thể khái quát như sau: Quản trị RRTD là quá trình độc lập kiểm soát và giám sát mức độ chấp nhận RRTD để đảm bảo rằng hoạt động đó nằm trong giới hạn đã định và phù hợp với chính sách quy trình.
Qua đó có thể kiểm soát được thất thoát trong mức độ chập nhận được và tránh những tổn thất không mong đợi. Riêng theo BCBS thì “Quản trị RRTD là việc thực hiện các biện pháp để tối đa hóa tỷ suất sinh lời điều chỉnh theo RRTD bằng cách duy trì số dư tín dụng trong phạm vi các tham số cho phép”. Như vậy BCBS bằng khái niệm trên đã chỉ rõ mục tiêu cuối cùng của quản trị RRTD là tối đa hóa lợi nhuận trên cơ sở đảm bảo RRTD luôn trong phạm vi ngân hàng có thể chấp nhận được. Nguyên nhân của rủi ro tín dụng Nguyên nhân từ phía năng lực quản trị của Ngân hàng - Cán bộ tín dụng không đủ năng lực chuyên môn, đạt chỉ tiêu bằng cách cho vay không đúng đủ quy trình, vi phạm đạo đức kinh doanh.
- Ngân hàng đốt cháy giai đoạn, rút ngắn quy trình cho vay chạy theo lợi nhuận. Không thường xuyên giám sát hoạt động kinh doanh của khách hàng trong quá trình sử dụng vốn vay. Định giá tài sản đảm bảo lớn hơn giá trị thực. Bỏ qua khách hàng tốt và cho vay đối với khách hàng xấu.
- Ngân hàng quản lý qua sổ sách chưa chú trọng đến kiểm tra thực tế. - Ngân hàng chưa đa dạng danh mục đầu tư Nguyên nhân từ phía khách hàng Khách hàng sử dụng vốn vay sai mục đích. Khách hàng cố tình lừa dối ngân hàng, cố tình chiếm dụng vốn, sử dụng giấy tờ giả. Tình hình hoạt động kinh doanh của khách hàng thua lỗ liên tục nên khách hàng không thể trả nợ.
Năng lực quản lí của chủ doanh nghiệp yếu kém, kiến hàng hóa sản xuất không thể tiêu thụ được. Nguyên nhân khách quan khác Chính sách quản lí của Ngân hàng nhà nước trong từng giai đoạn; Do thiên nhiên bão lũ, sạt lỡ, động đất…; Tình hình của các nước trên thế giới, cuộc chiến thương mại khiến cho các nhà đầu tư e ngại khi rót vốn đầu tư; Tình hình an ninh, chính trị trong và ngoài nước. Hậu quả của rủi ro tín dụng Ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Khi Ngân hàng cho vay mà không thu hồi được vốn vay và lãi suất, các loại phí dẫn đến Ngân hàng phải gánh chịu và bù lỗ cho các khoản vay đó. Khiến 12 Ngân hàng gặp khó khăn trong việc huy động vốn và chu chuyển vốn, khách hàng mất lòng tin đối với Ngân hàng.
Khách hàng rút tiền, chuyển tiền đi hàng loạt sẽ làm cho Ngân hàng mất thanh khoản. Thâm chí nhiều tổ chức tín dụng, và NHTM phải tuyên bố phá sản. Việc Ngân hàng phá sản sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của các Ngân hàng khác điều đó làm cho nền kinh tế không thể phát triển, và dẫn đến suy thoái trong thời gian ngắn. Ảnh hưởng đến nền kinh tế xã hội Tín dụng ngân hàng như là chiếc cầu nối giữa nơi có vốn đến nơi cần vốn.
Vai trò bơm tiền vào nền kinh tế. Nếu như hoạt động của Ngân hàng gặp vấn đề sẽ khiến thị trường nền kinh tế bị đóng băng xuất hiện những tệ nạn xã hội, thất nghiệp kéo dài, các nhà đầu tư trong và ngoài nước rút vốn đầu tư làm cho nền kinh tế không thể phát triển, khủng hoảng kéo dài. Ảnh hướng đến đối ngoại Khi một quốc gia gặp vấn đề về Tài chính sẽ ảnh hưởng đến kinh tế, xã hội, chính trị. Từ đó các quốc gia hay các nhà đầu tư e ngại khi rót vốn đầu tư vào.
Hình ảnh của quốc gia đó sẽ bị ảnh hưởng từ đó khiến cho giá cả tăng cao, thất nghiệp, tệ nạn xã hội và nền kinh tế khó phục hồi, rơi vào tình trạng khủng hoảng kéo dài nếu không có chính sách hoàn thiện Tài chính – Tiền tệ. Sự ra đời của ủy ban Basel và các nguyên tắc quản trị rủi ro tín dụng 1. Sự ra đời của ủy ban Basel Sự ra đời của ủy ban Basel (BCBS) xuất phát từ sau một loạt các cuộc khủng hoảng tiền tệ quốc tế và thị trường ngân hàng, trong đó đáng chú ý nhất chính là sự sụp đổ của NH Herstatt ở Tây Đức lúc bấy giờ. Vào cuối năm 1974 BCBS được thành lập bởi các NHTW của các nước G10 và cuộc họp đầu tiên diễn ra vào tháng 2/1975 với mục đích nghiên cứu ra các phương thức ngăn chặn sớm sự sụp đổ của hệ thống các ngân hàng trên thế giới.
Cương lĩnh hoạt động của BCBS là sự yếu kém trong hệ thống ngân hàng của một quốc gia, dù là quốc gia phát triển hay đang phát triển, có thể đe dọa đến sự ổn định về tài chính trong 13 cả nội bộ quốc gia đó và trên toàn thế giới. BCBS hoạt động dưới sự giám sát của các NHTW và cơ quan giám sát của G10. Khi mới thành lập các thành viên BCBS bao gồm đại diện cao cấp các cơ quan giám sát nghiệp vụ ngân hàng và NHTW của các nước Bỉ, Canada, Pháp, Đức, Ý, Nhật Bản, Luxembourg, Hà Lan, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Anh và Mỹ. BCBS tổ chức họp thường niên tại trụ sở ngân hàng thanh toán quốc tế (BIS) tại Washington hoặc tại Thành phố Basel – Thụy Sĩ.
Ban thư ký thường trực của BCBS cũng có trụ sở làm việc tại thủ đô Washington – Mỹ. Sau khi hoàn thiện hệ thống đo lường vốn và rủi ro tín dụng, BCBS cho ra đời hiệp ước vốn Basel (Basel I) năm 1988 và hiệu lực ở các nước G10 năm 1992. Phương châm chính của hiệp ước vốn là đưa ra được định nghĩa mang tính quốc tế chung nhất về vốn của ngân hàng và khuyến nghị các TCTD về tỷ lệ vốn an toàn cùng một số tiêu chuẩn về vốn quy định. Đồng thời ài sản của các ngân hàng đã được phân loại, nhóm lại trong năm loại theo rủi ro tín dụng và mang theo trọng số rủi ro tương ứng.
Năm 1992 Basel I có được bổ sung nhiều điểm mới trong đó nổi bật là có thêm khái niệm “rủi ro thị trường“. Sau nhiều lần sửa đổi tới 26/06/2004 BCBS cho ra phiên bản mới của hiệp ước vốn (Basel II) được ban hành và chính thức có hiệu lực từ tháng 1/2007. Nếu như vốn an toàn theo quy định của Basel I chỉ đề cập tới tỷ lệ an toàn vốn thì Basel II đề cao việc chi tiết hơn hệ số rủi ro trong tính tài sản có rủi ro và tính toán tài sản có rủi ro gánh chịu cả 3 loại rủi ro: rủi ro tín dụng, rủi ro vận hành và rủi ro thị trường và theo đó tuy tỷ lệ vốn bắt buộc vẫn là 8% nhưng phần mẫu số để tính Car có thay đổi đáng kể. Về kỹ thuật giảm rủi ro tín dụng, Basel II được thừa nhận về kỹ thuật giảm thiểu rủi ro tốt hơn so với basel I.
Đồng thời Basel II có sự bắt buộc trong công khai chi tiết các hệ số trong tính toán tài sản có rủi ro và các chính sách rủi ro của ngân hàng.