phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương, 7 tiết. KHÁI QUÁT CHUNG VE HỆ PHÁI KHÁT SĨ VÀ TÁC PHÁM “CHƠN LÝ” 1. Khái quát chung về Hệ phái Khat sĩ Việt Nam. Hoàn cảnh ra đời của Hệ phái Phật giáo Khắt sĩ.
Vùng Nam bộ là nơi sinh sống và phát triều của của nhiều dân tộc, trong đó chủ yếu là người Việt, người Khmer, người Hoa, người Chăm. Trước thế ky XVII, khi chưa có sự di cư của người Việt, người Hoa và người Chăm, thi người Khmer là sắc dân chính ở vùng đất Nam bộ. Tuy nguồn sốc xuất xứ, phong tục tập quán, cách thức làm ăn, thân phận giàu nghèo, thành phần tộc người và thành phần tôn giáo không giống nhau, nhưng tất cả các nhóm cư dân đến Nam bộ nêu trên đều chung một mục tiêu là day lùi đầm lay, cây dai, thú dir để có ruộng đồng phì nhiêu, xóm làng trù phú. Họ sống cởi mở, hào hiệp và phóng khoáng; không khuất phục cường quyền, san sàng làm việc hiểu nghĩa, bênh vực kẻ yếu, bao bọc kẻ sa cơ lỡ vận.
Đặc trưng trong mỗi con người Nam bộ kể trên là điều kiện dé họ dé dàng giao lưu văn hóa, ảnh hưởng lẫn nhau. Đây chính là những điều kiện tất yêu dé Nam bộ là mảnh đất có nhiều tín ngưỡng, tôn giáo nhất ở nước ta, với những nét đặc thù mà nơi khác không có. Quá trình hình thành, du nhập và phát triển của các tín ngưỡng, tôn giáo Nam bộ gắn liền với bối cảnh lịch sử, chính trị, kinh tế, xã hội nhiều biến động của vùng dat này, đặc biệt là giai đoạn cuối thé ky XIX dau thé ky XX. Do những đặc điểm riêng, nhân dân Nam bộ trong cuộc dau tranh chống áp bức cường quyền, ngoài việc giáp mặt với kẻ thù băng vũ lực, còn có những hình thức đấu tranh băng tôn giáo.
Tôn giáo chủ yếu được ho sử dụng để tập hợp lực lượng. Ngay trước khi thực dân Pháp xâm lược, nhân dân Nam bộ đã dùng hình thức tôn giáo dé chống lại triều đình nhà Nguyễn. 10 Đầu thé kỷ XX, thực dân Pháp day mạnh cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai ở Việt Nam với một loạt chính sách về kinh tế nhằm vơ vét nhiều của cải đưa về chính quốc dé han gắn vết thương chiến tranh. Nam bộ là vùng thực dân Pháp bóc lột nhiều nhất, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp.
sự bế tắc của nhân dân Nam bộ trong cuộc sống và cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, sự đây mạnh khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, sự suy thoái của các tôn giáo và đạo lý truyền thống giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là những nguyên nhân cơ bản làm xuất hiện nhiều tôn giáo mới ở Nam bộ, trong đó có Hệ phái Phật giáo Khát sĩ. Sự ra đời của Hệ phái Phật giáo này ở Nam bộ đầu thế kỷ XX là một tất yếu lịch sử. Tóm lại, có thé khái quát về bối cảnh ra đời của Phật giáo Khat sĩ từ hai nguyên nhân khách quan và chủ quan như sau: Thứ nhất, nguyên nhân gián tiếp, dưới thời kỳ Chúa Nguyễn (thế kỷ XVII), vùng dat Nam Bộ của Việt Nam được khai phá do cuộc mở rộng địa bàn về phía Nam. Trước năm 1945, vùng nay còn rất hoang vu với nhiều lau sậy ram rap, cây cối um tum, thiên tai, lũ lụt, thú dữ.
thường xuyên de doạ cuộc sống của người dân trong vùng. Tuy nhiên, với vị trí địa lý và địa hình màu mỡ, nguồn đất phù sa tốt tươi được bồi đắp bởi hai con sông Tiền Giang và Hậu Giang, đây là vùng đất thuận lợi cho sự phát triển và cấy trồng nông nghiệp, đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản. Nơi đây lại có đặc điểm là hệ thống sông ngòi day đặc, ít đồi núi cản trở, giao thông đường thuỷ thuận tiện. Chính vì vậy, Nam Bộ là vùng đất khi vừa mới được khai phá đã thu hút nhiều thành phần dân cư từ khắp các nơi đến đây sinh sống vào khoảng thế kỷ XVII trở đi, những cộng đồng di dân nhập cư mang theo các phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo góp phần cho sự hình thành và xuất hiện nhiều hiện tượng tôn giáo mới.
II Nguyên nhân trực tiếp, Hệ phái Khất sĩ ra đời trong bối cảnh của vùng đất mới cùng với sự tồn tại và phát triển mạnh mẽ của các tôn giáo nội sinh như Cao Đài, Phật giáo Hoà Hảo, Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, cùng các Hội kín Nam Kỳ trong phong trào chống phong kiến và thực dân Pháp thê hiện những khát vọng về một bản sắc văn hoá vùng đất khai mở tạo dựng được tư tưởng độc lập và tự chủ, thoát khỏi sự lệ thuộc của các văn tự Hán truyền cô xưa của Phật giáo Bắc truyền, đồng thời cũng không sử dụng ngôn ngữ Pali hay Sancrít của Phật giáo Nam truyền hay bị ảnh hưởng bởi ngôn ngữ của thực dân xâm lược bay giờ là tiếng Pháp. Bằng sức sáng tạo và bản địa hoá, sử dụng chính tiếng Việt - ngôn ngữ Quốc ngữ được sử dụng dé diễn đạt, đồng thời định hình hệ thống kinh sách riêng trên cơ sở hoà hợp tư tưởng của cả hai dòng Phật giáo Nam - Bắc truyền. Với những giáo lý, giáo luật căn bản của Phật giáo Khất sĩ được chính Ngài Minh Đăng Quang viết ra đã góp phần phù hợp với tâm thức và tín ngưỡng của một bộ phận cư dân vùng đất mới Nam Bộ, do đó, rất nhanh chóng có sức lan toả và trở thành một xu thế phản kháng lại những nền văn hóa ngoại, nhưng lại khẳng định được bản sắc và sức sáng tạo của văn hoá bản địa Nam Bộ. Bộ “Chơn lý” được Ngài Minh Đăng Quang biên soạn đã có sự tóm lược, ngắn gọn và dễ hiểu hướng đến đại đa số dân chúng, và được dân chúng nhanh chóng tiếp nhận như một hình thức tôn giáo bản địa dù mới mẻ nhưng lại hết sức gần gũi và quen thuộc.
Sự hình thành, phát triển của Hệ phái Phật giáo Khát sĩ. Từ năm 1944 đến năm 1954, hoạt động của Hệ phái Phật giáo Khat sĩ gắn liền với cuộc đời hành đạo của Ngài Minh Đăng Quang, từ một du tăng khat sĩ, tiến đến thành lập đoàn du tăng khát sĩ, quy định số người dé thành lập Tiểu Giáo hội (20 người), Trung Giáo hội (100 người) và Đại Giáo hội 12 (500 người). Kết thúc thời kỳ này là sự kiện Ngài Minh Đăng Quang văng bóng ngày | tháng 2 năm 1954. Ngài Minh Đăng Quang là người khai lập Hệ phái Phật giáo Khat sĩ; thé danh là Nguyễn Thành Đạt, tự Lý Hườn, sinh ngày 4/11/1923, tại làng Phú Hậu, tổng Bình Phú, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long (nay là ấp 6, xã Hậu Lộc, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long); xuất thân trong một gia đình có truyền thống trọng Nho kính Phật.
Thân phụ là cụ ông Nguyễn Tén Hiếu. Thân mẫu là cụ bà Phạm Thị Ty. Lớn lên, nhiều lần ông xin phép thân phụ được xuất gia cầu tìm chân lý. Vì quá thương con, không đành để con ra đi một mình nơi xứ lạ hiểm nguy khi tuổi đời còn niên thiếu, nên cha ông nhất định cản ngăn.
Thấy việc trình xin xuất gia không kết quả vì tình phụ tử, nhưng không vì sự luyến ái đó mà ông bỏ dé chí đăng sơn. Sau nhiều đêm suy nghĩ, cuối cùng ông quyết tâm ra đi, cắt đứt tình thân, xuất gia cầu đạo. Ở với thầy được 3 năm, thấy lối tu của thầy không thích hợp, nên ông trở về quê (1941) ở với thân phụ vai thang, sau đó ông lên Sài Gòn làm nhà hàng của người Nhat Bản và làm cho hãng xà phòng Việt Nam. Năm 1943 (21 tuổi), ông thật sự xuất gia, dẫn thân vào vùng Thất Sơn/ Bảy Núi (An Giang) huyền bí, nghiên cứu cách tu học của Phật giáo Nam tông và Phật giáo Bắc tông.
Sau thời gian ở Thất Sơn, đến năm 1944 (22 tuổi), ông xuống núi qua đất Hà Tiên dự định lần sang Phú Quốc rồi tiếp tục ra nước ngoài học đạo. Nhưng đến Mũi Nai (Kiên Giang) do trễ tàu, ông tìm đến nơi thanh văng ở bãi biển ngồi thiền bảy ngày đêm quán sát lý nhân duyên. Vào một buổi chiều, sau khi thấy những chiếc thuyền đánh cá trên mặt 13 nước với những làn sóng biển dồn đập tụ tán, ông ngộ đạo với lý “Thuyền Bát Nhã” và bắt đầu đi thuyết pháp độ sinh. Năm 1946, Ngài Minh Dang Quang phát nguyện thọ giới Tỳ kheo/ giới Cụ túc tại chùa Linh Bửu, làng Phú Mỹ, tỉnh Mỹ Tho.
Ngôi chùa này là đạo tràng hành đạo đầu tiên của Ngài. Trong thời gian này, ông hướng dẫn Phật tử ở làng Phú Mỹ, tỉnh Mỹ Tho dựng tịnh xá Mộc Chon, ngôi tịnh xá đầu tiên do ông hướng dẫn xây cất dé mở đạo. Năm 1947, ông thu nhận nhiều đệ tử. Với hơn 20 đệ tử, lần đầu tiên ông tổ chức Lễ Tự Tứ ở chùa Kỳ Viên (Sài Gòn) vào năm 1948; thành lập một Tiểu Giáo hội.
Từ năm 1948 đến năm 1953, ông tổ chức đoàn du tăng hành đạo, giáo hóa nhiều nơi ở Nam bộ như: Vĩnh Long, Sài Gòn, Thủ Dầu Một, Biên Hòa, Tây Ninh, Bà Rịa, Cần Thơ, Long Xuyên, Châu Đốc, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Tra Vinh. tại rất nhiều nơi đoàn du tăng đi qua đã quy ngưỡng, nhiều người phát tâm xuất gia tu học theo Hệ phái Phật giáo Khat sĩ. Đến năm 1953, dé mở rộng việc hành đạo, đến nơi nào có điều kiện, ông lập tức cho dựng tịnh xá. Chỉ trong khoảng 10 năm hành đạo, ông đã cho xây dựng 30 tinh xá, thu nhận 49 đệ tử tăng, 53 đệ tử ni.
Ngày 21/1/1954, Đốc Phủ sứ Nam Việt là Nguyễn Văn Diệu ký một văn bản cho phép đoàn du tăng Hệ phái Phật giáo Khất sĩ đi hành đạo, đến địa phương nao thì trình số và xin chính quyền địa phương cho thuyết pháp. Như vậy, trong 10 năm từ khi cất bước hành đạo (1944) cho đến lúc vắng bóng (1954), Ngài Minh Đăng Quang đã độ được trên 100 Tăng ni, xây dựng 30 ngôi tịnh xá, được nhà cầm quyền cho phép hành đạo thuyết pháp. Đây là những kết quả khả quan, tạo cơ sở vững chắc cho Hệ phái Phật giáo Khất sĩ phát triển về sau. Giai đoạn 1954 — 1964, năm 1954, Ngai Minh Dang Quang thụ nạn.
Với cương vị là trưởng quản Giáo hội, Ngài Giác Táng nhận nhiệm vụ tiếp tục 14 cùng đưa đoàn Du tăng trên bước đường hành đạo tại vùng đất Nam Bộ.