Chương 1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI, TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG CANH TÂN GIÁO DỤC CỦA NGUYỄN TRƯỜNG TỘ 1. ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CANH TÂN GIÁO DỤC CỦA NGUYỄN TRƯỜNG TỘ 1. Điều kiện lịch sử - xã hội hình thành tư tưởng canh tân giáo dục của Nguyễn Trường Tộ Tư tưởng nói chung, tư tưởng canh tân giáo dục của Nguyễn Trường Tộ nói riêng về bản chất là một hình thái ý thức xã hội, bị quy định và phản ánh điều kiện tồn tại xã hội trong những điều kiện lịch sử nhất định. Do đó, để hiểu về tư tưởng canh tân giáo dục của Nguyễn Trường Tộ, trước hết chúng ta cần phân tích các điều kiện lịch sử - xã hội trong thế kỷ XIX, một trong những cơ sở khách quan ảnh hưởng tới sự hình thành tư tưởng của ông.
Điều kiện này thể hiện thông qua các điểm chính như sau: Thứ nhất, xã hội Việt Nam lạc hậu so với phương Tây, đứng trước nguy cơ mất nước, đã đặt ra yêu cầu phải canh tân toàn diện đất nước, trong đó có canh tân về giáo dục. Vào thế kỷ XIX, chế độ phong kiến Việt Nam rơi vào trì trệ, lạc hậu. Trước khi Pháp xâm lược (1858), Việt Nam từng bước rơi vào cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng. Các biểu hiện của khủng hoảng kinh tế đã xuất hiện trong nền nông nghiệp nước ta; chịu ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc của chính sách trọng nông, ức thương mà triều Nguyễn triệt để thi hành.
Cũng trong thời kỳ này, nền nông nghiệp vẫn phụ thuộc chủ yếu vào điều kiện tự nhiên và những kinh nghiệm thuần túy tồn tại hàng nghìn năm khiến cho mọi nỗ lực của nhà nước mong đảm bảo lương thực lại trở nên bất lực. Chính sách 10 địa tô bằng hiện vật là một bước lùi về mặt kinh tế, bởi chúng làm cho quan hệ tiền - hàng và các nhân tố kinh tế hàng hoá vốn tương đối phát triển trước đó bị kìm hãm. Một trong những sai lầm của triều đình phong kiến nhà Nguyễn là áp dụng các biện pháp ức thương nhằm hạn chế sự phát triển các nhân tố thương mại. Chính sách ức thương này liên quan tới việc tôn sùng đạo Nho và sự lo sợ nguy cơ xâm hại do các thương gia, giáo sĩ nước ngoài mang tới; lo sợ các nước phương Tây lấy cớ thông thương để xâm lược.
Do đó, việc đóng cửa các hoạt động giao thương, kiểm soát ngoại thương được thi hành ngay từ thời Gia Long. Đây là biểu hiện đặc trưng của lối tư duy phong kiến, triều đình Nguyễn coi việc buôn bán là nghề rẻ mạt nên xếp thương nghiệp sau tất cả các nghề khác. Việt Nam lại là nước thuần nông, tất cả các khoản thu chi trong ngân khố phụ thuộc vào địa tô và nghề nông đặt lên vị trí hàng đầu. Về mặt chính trị, bên cạnh cơ sở kinh tế nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu, kém phát triển, thì nhà Nguyễn lại xây dựng một nền chính trị phong kiến trung ương tập quyền cao độ.
Ngay khi có được quyền lực, nhà Nguyễn đã phải đương đầu với nhiều vấn đề hết sức nan giải như: vấn đề tính chính thống của triều đại, vấn đề khủng hoảng kinh tế… cộng với việc luôn phải đối phó với mọi mưu đồ khôi phục nhà Lê, do vậy ý thức bảo vệ vị trí thống trị được nhà Nguyễn hết sức coi trọng. Triều đình không muốn thiết lập quan hệ giao thương với các quốc gia khác xuất phát từ quan niệm việc giao thương với người Tây phương là nguồn cơn dẫn tới suy đồi đạo đức trong nhân dân và là nguy cơ dẫn tới phản loạn. Đường lối đối ngoại vì thế bộc lộ rõ ràng chính sách “bế quan toả cảng”. Mặt khác, do yêu sách và hoạt động ngày càng tăng của các giáo sĩ thừa sai trong truyền bá Thiên chúa giáo của họ nên triều đình càng lo ngại và cảnh giác.
Với những lý do đó, trong suốt nửa đầu thế kỷ XIX, triều Nguyễn từ chối tất cả các nỗ lực đàm phán thiết lập quan hệ ngoại giao của các nước phương Tây, đặc biệt là Pháp. Việc kiên 11 định đường lối này đã không giúp triều đình nhà Nguyễn giải quyết các mâu thuẫn trong xã hội mà còn làm tình hình thêm trầm trọng. Hơn nữa, các chỉ dụ cấm đạo trong thời vua Tự Đức ban hành đã phần nào tạo cớ cho Pháp can thiệp vào Việt Nam. Do việc độc tôn Nho giáo, đời sống văn hóa của người Việt thời kỳ này thiếu sự đa dạng và phong phú về mặt tư tưởng.
Trong xã hội theo Nho giáo có bốn giai tầng xã hội sĩ, nông, công, thương theo mức độ từ cao xuống thấp. Mâu thuẫn nổi bật và cơ bản phải kể đến trong giai đoạn này là mâu thuẫn giữa giai cấp nông dân với địa chủ, quan lại phong kiến. Những mâu thuẫn này diễn ra cực gay gắt do nông dân vừa bị áp bức tinh thần vừa bị bóc lột về kinh tế. Việc này thể hiện qua nhiều cuộc nổi dậy liên tiếp của nông dân trong suốt nửa đầu thế kỷ XIX.
Tình hình kinh tế - chính trị - xã hội Việt Nam thế kỷ XIX cho thấy trong lòng xã hội đã dung chứa, tiềm ẩn mọi nhân tố dẫn tới sự khủng hoảng; đặc biệt là phải đương đầu với kẻ xâm lược khác hẳn về chất so với những kẻ thù truyền thống trong lịch sử. Do tính cực đoan về mặt tư tưởng, vua quan triều Nguyễn đã không nhạy bén trước sự thay đổi nhanh chóng của thế giới, nên không có sự chuẩn bị đối phó với những thách thức mới của lịch sử. Bên cạnh những tư tưởng hoặc là đầu hàng, hoặc là quyết chiến với kẻ xâm lược thì đến nửa sau thế kỷ XIX, ở Việt Nam một xu hướng mạnh mẽ xuất hiện đó là xu hướng canh tân, tự lực tự cường đất nước. Khuynh hướng canh tân là một bước phát triển mới của tư duy Việt Nam trong xử lý tình hình thực tiễn đất nước, chứa đựng những tư tưởng mới trong nhận thức hiện thực.
Tất cả các tư tưởng canh tân hướng đến việc thay thế các đường lối, chính sách lỗi thời, lạc hậu bằng những đường lối, chính sách tiến bộ hơn nhằm khắc phục tình trạng kém phát triển và đáp ứng yêu cầu bảo vệ độc lập dân tộc và phát triển đất nước thời kỳ này. 12 Thứ hai, sự lạc hậu của nền giáo dục nước nhà trước yêu cầu phát triển đất nước đòi hỏi cần phải canh tân giáo dục. Thực chất giáo dục tại Việt Nam thời phong kiến là Nho học. Nền giáo dục Nho học mang nặng tính chất kinh viện, tầm chương, trích cú.
Mục tiêu của nền giáo dục này là tập luyện cho người học đạt được trình độ văn hay, chữ tốt; từ đây có năng lực diễn đạt, trình bày các tư tưởng Nho giáo qua thơ văn. Và giá trị cốt lõi là xây dựng mẫu người lý tưởng Nho giáo cho xã hội. Xuất phát từ mục tiêu ấy nên gần mười thế kỷ dưới sự thống trị của chế độ phong kiến, giáo dục chủ yếu là tập trung đạo đức không tập trung cho các ngành nghề trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật; không có chương trình đào tạo người trong các hoạt động kinh doanh và sản xuất nông nghiệp. Nho giáo đã tồn tại, phát triển qua nhiều triều đại tại Việt Nam.
Năm 1802, Gia Long giành thắng lợi và lập Triều Nguyễn. Tiếp tục với tư tưởng Nho giáo triều Nguyễn với các đời vua trị vì Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức tìm đủ mọi cách chấn hưng Nho giáo. Những thời kỳ này, Nho giáo giữ vị trí độc tôn tại Việt Nam từ chính trị, xã hội đến giáo dục. Khi lấy Nho giáo làm hệ tư tưởng, vua quan triều Nguyễn nói chung chỉ đề cao các quan niệm sao cho phù hợp mục đích chính trị “khiến Nho học triều Nguyễn là một tập đại thành những tư tưởng duy tâm trong lịch sử Nho học” (Lê Sỹ Thắng, 1997, trang 110).
Các vua triều Nguyễn đề cao tư tưởng mệnh trời vì tư tưởng này biện minh cho tính chính thống của triều đại và củng cố vững chắc cho ngôi báu. Các vua Nguyễn tạo nên khung cảnh thần bí và tổ chức nghi lễ tế trời nhằm thiết lập một mối quan hệ siêu nhiên mỗi khi phải tiếp xúc dân chúng. Việt Nam trong thời kì này thiếu trầm trọng kiến thức về khoa học tự nhiên, Nho giáo không giúp ích nhiều trong việc cải thiện cuộc sống và khắc phục thiên tai. Để suy tôn quyền gia trưởng và nhà vua, nhiều chuẩn mực đạo đức về tam cương, ngũ thường được đề cao.
13 Có thể nói, giáo dục Việt Nam lúc bấy giờ sùng cổ, xa thực tế và chuộng hình thức. Hệ thống giáo dục và thi cử, tuyển chọn theo Nho giáo để đào tạo đội ngũ quan chức cho mục đích chính trị đã đặt ra. Vì lợi ích chính trị của vương triều, các vua Nguyễn chỉ nhận thức được ưu thế của hệ thống giáo dục đó, còn những mặt trái của lối đào tạo này là tính phi thực tế, tính bảo thủ, rập khuôn… bị bỏ qua. Đề cao chữ Hán và phục hồi lối văn kinh nghĩa bát cổ cầu kỳ.
Văn hoá nhà Nguyễn khôi phục lại ý thức hệ phong kiến vốn lạc hậu, lỗi thời. Nền văn hóa Tây phương đã bị ngăn chặn do hệ thống giáo dục bảo thủ, lạc hậu này. Bởi vậy, trước đề nghị đưa các môn khoa học mới vào giáo dục của Nguyễn Trường Tộ, Tự Đức đã hỏi rằng: cái thuyết địa động có phải độc sáng không? Trời vốn chỉ là khí chứa lại mà thành, làm sao mà biết được đội số của nó… Sự toàn chuyển tả hữu của nó? Từ chỗ không hiểu, Tự Đức nghi ngờ cả những kiến thức khoa học khác. Nguyễn Trường Tộ đã đưa ra quan điểm rằng: “Gần đây có người suy tôn phương pháp Thái tây có phải là có kiến thức chân xác vượt lên trên cổ nhân hay cũng chỉ là nói thuội, về hùa mà thôi? Mà theo cách lập thuyết của họ thì không có ngũ hành tương sinh tương khắc, như thế thì đã trái lý và không hợp với cổ nhân rồi, còn lấy gì mà suy tôn họ nữa”.
Năm 1858, khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta, nhà nước phong kiến từng bước nhân nhượng và cuối cùng đầu hàng trở thành tay sai cho thực dân. Khi ấy, Nho học được nhà nước phong kiến tôn làm hệ tư tưởng; họ học Nho với mục đích trở thành phò vua giúp nước, lý tưởng lớn của họ là trung quân.