Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Đã có những công trình nghiên cứu đề cập đến từng nội dung nhất định trong hệ vấn đề tự do và trách nhiệm đạo đức trong hoạt động khoa học, công nghệ và bài học đối với Việt Nam hiện nay. Vì vậy, khi tổng quan những vấn đề này, chúng tôi đã có điều kiện tiếp xúc với nguồn tài liệu khá phong phú. Để giải quyết những nhiệm vụ do luận án đặt ra, tác giả đã tổng quan tình hình nghiên cứu theo nội dung chính các chương của luận án. Tác giả luận án sắp xếp những tài liệu đó thành những nhóm chính như sau: 1.
NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỰ DO VÀ TRÁCH NHIỆM ĐẠO ĐỨC TRONG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ 1. Những nghiên cứu lý luận chung về tự do và trách nhiệm đạo đức Lịch sử tư tưởng nhân loại đã ghi nhận rất nhiều quan niệm khác nhau về tự do và trách nhiệm. Trong quá trình phát triển của xã hội loài người, tự do và trách nhiệm, được nhìn nhận dưới nhiều giác độ khác nhau như triết học, đạo đức học, chính trị học, văn hóa học… Tuy nhiên, đa số các công trình nghiên cứu về tự do, về trách nhiệm, cũng như tư tưởng nhìn nhận tự do và trách nhiệm trong mối liên hệ biện chứng, chỉ mới được bắt đầu từ những năm 90 của thế kỷ XX. Những công trình này bao gồm những cuốn sách, các bài báo trên tạp chí, các đề tài nghiên cứu.
Chúng ta có thể kể đến những công trình như: E. Fromm - một nhà triết học Mỹ trong tác phẩm "Trốn thoát tự do" (Begstvo ot svobody) [53], được dịch giả Bùi Thanh Châu dịch sang Tiếng Việt, đã phân tích sâu sắc mối quan hệ giữa tự do và trách nhiệm ở các thời đại lịch sử khác nhau, nhất là trong thời kỳ chuyển biến từ xã hội phong kiến 10 sang xã hội tư bản. Theo tác giả, sở dĩ người ta phải chạy trốn tự do, không dám đón nhận tự do bởi càng tự do bao nhiêu, thì trách nhiệm của con người với chính bản thân mình cũng như với xã hội cũng từ đó mà tăng theo [53, tr. Mà dám chịu trách nhiệm là năng lực rất khiếm khuyết ở con người đại chúng, phần lớn nhân loại không có năng lực này, họ đã quen sống dựa dẫm, ỷ lại, đã có người khác chỉ bảo phải làm gì, nghĩ hộ mình rồi, phải trái, đúng sai đã có người khác, họ không phải chịu trách nhiệm gì nữa.
Trong tác phẩm này, E. Fromm không đưa ra quan niệm của mình về tự do, hay không đi sâu theo hướng phân tích thế nào là tự do nhưng đã phần nào đó đề cập đến một trong những khía cạnh của quan niệm về trách nhiệm đó là vấn đề “chịu trách nhiệm”. “Chạy trốn tự do” là tài liệu quý giúp tác giả luận án có cái nhìn sâu sắc hơn về mối quan hệ giữa tự do và trách nhiệm, khi nghiên cứu mối quan hệ giữ chúng cần đặt trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể của một thời đại, một mối quan hệ… thì mới có thể nghiên cứu được. Jaspers trong tác phẩm "Mục đích và sứ mệnh của lịch sử" [88], khi bàn về tự do tác giả đã cho rằng: “Tự do là tài sản quý giá nhất; nó không bao giờ tự đến và không được giữ lại một cách tự động.
Con người chỉ có thể giữ gìn tự do ở nơi mà nó được ý thức và con người cảm nhận thấy phải có trách nhiệm về nó” [88, tr.166] và khi đó, vấn đề trách nhiệm đối với tự do được coi là một trong những vấn đề “thầm kín” nhất. Trong tác phẩm, tác giả đã một lần nữa khẳng định giữa tự do và trách nhiệm có mối liên hệ mật thiết với nhau, muốn có được và giữ được tự do thì phải có trách nhiệm, nhưng chưa chỉ rõ cụ thể mối liên hệ ấy như thế nào. Đây là vấn đề mà luận án sẽ hướng đến làm rõ hơn. Zolotukhiana - Abolina bàn về phạm trù tự do và trách nhiệm trên quan điểm là cần phân biệt rõ ràng các khía cạnh của tự do và trách nhiệm như: bản chất tự do; vấn đề lựa chọn tự do; con người có trách nhiệm trước ai và cho cái gì?; vấn đề tự trị của đạo đức - phán xử thế nào về hành vi thực 11 hiện tự do?.
là những vấn đề mà tác giả đặt ra và giải quyết trong tác phẩm “Đạo đức học hiện đại: cội nguồn và những vấn đề” [54], được Trung tâm xuất bản “Mart” phát hành bằng tiếng Nga. Tác phẩm đã được nhóm các dịch giả chuyển ngữ sang tiếng Việt để làm tài liệu tham khảo. Đây là tài liệu quý giá giúp tác giả luận án có cái nhìn toàn diện hơn về khái niệm tự do và khái niệm trách nhiệm. Đặc biệt, tác phẩm bàn về khái niệm trách nhiệm dưới quan điểm đạo đức học khá sâu sắc và cụ thể.
Khái niệm trách nhiệm được E. Zolotukhiana - Abolina bàn đến ở tầng cao nhất của nó là trách nhiệm đạo đức. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa tự do và trách nhiệm chưa được tác giả phân tích rõ. Tự do và trách nhiệm được tác giả nhìn nhận dưới quan điểm triết học hiện sinh là chủ yếu nên không tránh khỏi một số những hạn chế nhất định.
Luận án sẽ kế thừa và phân tích cụ thể mối quan hệ này. John Stuart Mill, trong tác phẩm "Bàn về tự do" [87], đã đề cập đến khái niệm tự do như là ranh giới giữa kiểm soát xã hội và độc lập cá nhân. Ông xuất phát từ nhận định của Wilhelm Von Humboldt cho rằng: mục tiêu của nhân loại là sự phát triển cao nhất và hài hòa nhất mọi năng lực của con người, và cần có hai điều kiện - tự do và sự đa dạng của các tình huống - để mục tiêu ấy có thể đạt được. Ông đưa ra các nguyên lý về tự do nhằm đạt được sự hài hòa trong quan hệ giữa con người cá nhân và cộng đồng xã hội, hướng tới mục tiêu phát triển.
Và, tự do là điều mà tất thảy mọi người đều khao khát, và phải đấu tranh hết sức để giành lấy nó. Như vậy, John Stuart Mill một lần nữa đề cao vai trò của tự do đối với mỗi người, tự do như là điều kiện đầu tiên cho sự phát triển nhưng tự do không tự dưng mà có. Là tác phẩm chuyên biệt bàn về tự do nhưng tác giả không bàn về mối quan hệ giữa tự do và trách nhiệm, mà John Stuart Mill luận bàn vấn đề theo hướng đặt tự do cá nhân trong mối quan hệ với toàn bộ cộng đồng xã hội, chịu sự kiểm soát của xã hội. Như vậy, tác giả gián tiếp khẳng định mối liên hệ giữa tự do và trách nhiệm là không thể tách rời khi cá nhân tham gia vào các hoạt động xã hội.
12 Trên cơ sở phân tích phạm trù nghĩa vụ đạo đức, tác giả Vũ Trọng Dung trong "Giáo trình đạo đức học Mác - Lênin" [43] đã bước đầu đề cập đến phạm trù trách nhiệm. Dựa trên quan niệm của đạo đức học Mác - Lênin, tác giả cho rằng nghĩa vụ đạo đức là “ý thức trách nhiệm của con người, là ý thức cần phải làm và mong muốn làm, hành động tự giác vì lợi ích của người khác và vì lợi ích của xã hội” [43, tr. Xét ở phương diện đạo đức, đây cũng được xem là một trong những khái niệm gần với khái niệm trách nhiệm mà luận án quan tâm nghiên cứu. Nguyễn Trần Bạt qua cuốn sách "Cội nguồn cảm hứng" [19], đã cho chúng ta một cái nhìn khá mới mẻ, hiện đại mà sâu sắc về khái niệm tự do và vai trò của nó đối với sự phát triển của xã hội.
Tác giả cho rằng, cần phải định nghĩa gần gũi hơn về tự do. Vì nếu định nghĩa tự do trong mối quan hệ với tất yếu thì “nhiều khi con người không nhận ra cái tất yếu để hành động, do đó, phần đông con người vẫn không hiểu về tự do và giá trị cao quý của tự do” [19, tr. Kết lại, tác giả định nghĩa tự do như sau: “Tự do là quá trình dịch chuyển song song của ý nghĩ và hành vi” [19, tr. Chỉ có sự dịch chuyển song song đó thì con người mới chủ động trong hành động của mình.
Tác giả cuốn sách có tư tưởng gần với với tư tưởng của John Stuart Mill trong tác phẩm “Bàn về tự do” khi cho rằng tự do là điều kiện đầu tiên, là tiền đề cho sự phát triển. Tác giả cũng đã đưa ra quan niệm của riêng mình về tự do sau khi khảo cứu các quan niệm về tự do trong lịch sử. Đây là tác phẩm quan trọng, luận án có thể tham khảo khi tìm hiểu về lịch sử của khái niệm tự do. Từ việc khảo cứu các quan niệm về tự do theo dòng lịch sử triết học phương Tây (từ triết học cổ đại đến triết học Mác - Lênin) thông qua một số tác giả tiêu biểu, tác giả Vương Thị Bích Thủy trong công trình "Tất yếu và tự do - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn" [143] đã nêu cách hiểu của mình về phạm trù tự do trong mối quan hệ với cái tất yếu.
Tác giả đã xem xét quan niệm về tự do dưới hai khía cạnh, thứ nhất với tư cách là một phạm trù triết 13 học và thứ hai với tư cách là một phạm trù chính trị - xã hội. Thông qua đó, tác giả khẳng định, tự do xuất phát từ tính tất yếu, nảy sinh dưới sự quy định của tất yếu. Cuốn sách tuy không bàn về mối quan hệ giữa tự do và trách nhiệm, nhưng thông qua cách triển khai nghiên cứu của tác giả về mối quan hệ giữa tự do và tất yếu sẽ là một tham khảo quý giá cho tác giả luận án triển khai nghiên cứu mối quan hệ giữa tự do và trách nhiệm (đặc biệt là tự do trong mối quan hệ với trách nhiệm đạo đức). Khái niệm tự do cũng được tác giả Vương Bích Thủy khảo cứu theo dòng lịch sử triết học khá toàn diện.
Đó chính là cơ sở lý luận giúp tác giả luận án dễ dàng hơn khi tiếp cận và đưa ra quan điểm của mình về tự do. Tác giả Đinh Ngọc Thạch trong bài viết “Về “tự do” với tư cách phạm trù triết học xã hội” [131], cũng chỉ ra rằng “tự do là giá trị thiêng liêng và là đặc tính bản chất của con người, là cơ sở bản thể luận của đời sống.