phần mở đầu và kết luận, bài luận văn bao gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu,cơ sở lý luận và thực tiễn về tự chủ tài chính ở trƣờng Đại học công lập. Phƣơng pháp nghiên cứu. Thực trạng tự chủ tài chính tại Trƣờng Đại học Hùng Vƣơng.
Bối cảnh chung, định hƣớng và giải pháp tăng cƣờng tự chủ tài chính tại Trƣờng Đại học Hùng Vƣơng. z 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀTHỰC TIỀN VỀ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH Ở TRƢỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về tự chủ tài chính ở trƣờng Đại học công lập Tự chủ tài chính tại các cơ sở giáo dục Đại học công lập đã và đang thu hút đƣợc sự quan tâm của nhiều các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý trong lĩnh vực giáo dục cũng nhƣ trong lĩnh vực quản lý tài chính, đƣợc trao đổi nhiều thông qua các Hội thảo, Hội nghị thể hiện tầm quan trọng của vấn đề và sự cần thiết phải tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp giáo dục và đào tạo nói chung và đối với các trƣờng Đại học nói riêng, trong đó phải kể đến các công trình tiêu biểu nhƣ: 1. Trần Đức Cân, 2012.
Hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính các trường Đại học công lập ở Việt nam. Luận án tiến sỹ.Trƣờng Đại học Kinh tế quốc dân. Luận án đã làm rõ thêm về cơ sở lý luận và thực trạng về cơ chế tự chủ tài chính của trƣờng Đại học công lập. Đƣa ra giải pháp hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính 2.
Phân tích về tự chủ Đại học - Cơ hội và thách thức. Hội thảo quốc gia: Tự chủ đại học - cơ hội và thách. Trƣờng Đại học Công nghiệp Hà Nội, tháng 9 năm 2016. Phát biểu tại hội thảo, Phó Thủ tƣớng Vũ Đức Đam nhấn mạnh ý nghĩa và sự cần thiết của tự chủ đại học.Tự chủ đại học không có nghĩa là chỉ là tự chủ về tài chính.
Quyền tự chủ của trƣờng đại học càng lớn thì đi kèm trách nhiệm xã hội càng cao. Trách nhiệm không chỉ trong chất lƣợng đào tạo mà còn với cả sinh viên, ngƣời sử dụng lao động mà còn với công chúng, với Nhà nƣớc. Tự chủ đại học, thì quyền tự chủ của nhà trƣờng sẽ đƣợc trao cho một “Hội đồng trƣờng” chứ không chỉ là của riêng một cá nhân nào khác. Tự chủ về tài chính không có nghĩa là Nhà z 5 nƣớc cắt kinh phí hoạt động, không có nghĩa là Trƣờng đại học phái tự lo kinh phí 3.
Nguyễn Thị Hƣơng và Tạ Ngọc Cƣờng, năm 2016. Tự chủ tài chính - cơ hội nâng cao chất lƣợng cho các trƣờng Đại học công lập ở Việt Nam.Tạp chí Khoa học ĐHQGHN,số 3.Tác giả khẳng định Giáo dục đại học đƣợc xem là dịch vụ công, đƣợc Nhà nƣớc cung cấp nguồn lực tài chính để phục vụ lợi ích chung, nhằm thực hiện chính sách công bằng xã hội. Để thúc đẩy sự phát triển của giáo dục, trong đó có giáo dục đại học, tài chính là một nguồn lực rất quan trọng, đóng vai trò nền tảng để phát triển các nguồn lực khác nhƣ con ngƣời, cơ sở vật chất,. những yếu tố quyết định đến chất lƣợng giáo dục nói chung và chất lƣợng giáo đại học nói riêng.
Chính vì vậy, tự chủ tài chính đƣợc coi là yếu tố quan trọng để đảm bảo cho yêu cầu phát triển giáo dục đại học trong điều kiện mới. Trên cơ sở nhận diện những lợi ích cũng nhƣ các rào cản đối với các trƣờng Đại học công lập khi thực hiện tự chủ tài chính, bài viết đề xuất một số giải pháp và khuyến nghị nhằm thúc đẩy hơn nữa cơ chế tự chủ tài chính ở các trƣờng Đại học công lập. Nguyễn Thị Ngọc Loan, 2016. Tự chủ tài chính đối với Đại học công lập: Lý luận và giải pháp.
Tạp chí tài chính,kỳ II. Theo tác giả việc trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính đối với các cơ sở giáo dục Đại học công lập đã mở ra cơ hội cho các cơ sở giáo dục Đại học công lập trong việc nâng cao tính chủ động, sáng tạo trong quản lý tài chính và tài sản của đơn vị, sử dụng ngân sách nhà nƣớc đƣợc giao tiết kiệm, hiệu quả hơn. Tuy nhiên, hoạt động này hiện vẫn còn tồn tại nhiều vƣớng mắc về cơ chế chính sách. Hoàng Thị Cẩm Thƣơng, 2017.
Giải pháp tăng cƣờng tự chủ đại học ở Việt Nam. Tạp chí tài chính, kỳ I. Bài viết khẳng định Đổi mới cơ chế quản lý theo hƣớng trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị giáo dục Đại học công lập là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với chủ trƣơng, đƣờng lối z 6 mở cửa hội nhập của Đảng và Nhà nƣớc ta. Thời gian qua, việc thực hiện cơ chế tự chủ tại các trƣờng Đại học công lập ở Việt Nam đã đƣợc triển khai thí điểm và có những kết quả ban đầu, tuy nhiên để phát huy cơ chế này cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ hơn nữa…Bài viết đƣa ra một số nội dung chính về tự chủ đại học bao gồm: Tự chủ về tổ chức, tự chủ về tài chính, tự chủ về nhân lực, đồng thời đƣa ra thực trạng tự chủ đại học ở Việt Nam hiện nay và đề xuất giải pháp tăng quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các trƣờng đại học Ngoài ra còn có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề Tự chủ tài chính tại Trƣờng Đại học công lập ; các bài tham luận , bàn luận của các c huyên gia tài chính đều khẳng định tầm quan trọng của tự chủ tài chính cũng nhƣ những vƣớng mắc cần tháo gỡ cho trƣờng Đa ̣i ho ̣c ở Viê ̣t Nam trong giai đoa ̣n hiê ̣n nay.
Qua tìm hiểu các công trình nghiên cứu nêu trên, có thể khái quát các vấn đề mà các công trình nghiên cứu đã đề cập nhƣ sau: - Nêu lên xu thế và các ảnh hƣởng của quá trình toàn cầu hóa đến phát triển GDĐH - Kinh nghiệm của một số nƣớc và một số mô hình tự chủ tài chính đại học của các nƣớc có nền GDĐH phát triển, kinh nghiệm của một số trƣờng đại học Việt nam. - Đƣa ra cơ sở lý luận về tự chủ, đánh giá sơ bộ thực trạng tự chủ nói chung và tự chủ tài chính nói riêng; đánh giá những tác động của chính sách đối với vấn đề tự chủ của các đại học ở Việt nam hiện nay. - Nêu những vƣớng mắc liên quan đến việc thực thi quyền tự chủ - Nêu một số giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính đối với cáctrƣờng Đại học công lập. z 7 Hầu hết các công trình nghiên cứu và các bài viết đều đánh giá thực trạngvà giải pháp chung của vấn đề tự chủ nói chung và tự chủ tài chính nói riêng trên toàn hệ thống, một vài bài báo đánh giá thực trạng của một đơn vị cụ thể nhƣ Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Sƣ phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Ngoại thƣơng, đại học Tôn Đức Thắng, Đại học Thƣơng Mại,… tuy nhiên chƣa có công trình nghiên cứu hay bài báo khoa học nào nghiên cứu về tự chủ tài chính đối với Trƣờng Đại học Địa phƣơng cũng nhƣ những tác động của chính sách mới đối với trƣờng đại học địa phƣơng nói chung và Đại học Hùng Vƣơng - Phú Thọ nói riêng, không đƣa ra giải pháp cụ thể nhằm tăng cƣờng năng lực tự chủ tài chính của Trƣờng.
Vì vậy, trong nghiên cứu của mình, tác giả chỉ nghiên cứu cụ thể về vấn đề tự chủ tài chính tại trƣờng Đại học Hùng Vƣơng - Phú Thọ và đề xuất một số giải pháp phù hợp với trƣờng trong thời gian tới. Cơ sở lý luận về tự chủ tài chính ở trƣờng Đại học công lập 1. Khái niệm, phân loại và vai trò của tự chủ tài chính 1. Một số khái niệm - Trƣờng Đại học công lập Trƣờng Đại học công lập là một đơn vị sự nghiệp công đƣợc thành lập theoquyết định của Nhà nƣớc, đƣợc Nhà nƣớc cấp kinh phí để đầu tƣ cơ sở vật chất và kinh phí hoạt động thƣờng xuyên thực hiện chức năng đào tạo nguồn nhân lực, tổ chức nghiên cứu khoa học và các nhiệm vụ khác theo quy định.
- Tự chủ Đại học Tự chủ đại học đƣợc định nghĩa là: Mức độ tự do của các cơ sở giáo dục trong việc điều hành công việc của mình mà không có sự chỉ dẫn hoặc ảnh hƣởng của một cấp nào đó từ phía Nhà nƣớc. Ảnh hƣởng của Nhà nƣớc có thể là dựa trên thẩm quyền có tính pháp lý, ví dụ nhƣ quyền bổ nhiệm hiệu z 8 trƣởng, bổ nhiệm các thành viên của Hội đồng Trƣờng…, mà cũng có thể thông qua sự thuyết phục dựa vào quyền lực về tài chính. Tự chủ đại học đƣợc hiểu là tự chủ về chuyên môn, học thuật, về dạy học, về nghiên cứu khoa học, về tổ chức bộ máy, nhân sự và tài chính. Tự chủ đại học không đồng nghĩa với với việc Nhà nƣớc không cấp kinh phí chi thƣờng xuyên, chi đầu tƣ.
Đặt Hội đồng Trƣờng là cơ quan quản lý cao nhất của Trƣờng Đại học. - Tự chủ tài chính Là mức độ tự đảm bảo chi thƣờng xuyên và chi đầu tƣ của đơn vị gắn với quyền tự chủ thực hiện nhiệm vụ chuyên môn và quyền tự chủ về tổ chức, biên chế, nhân sự. Tự chủ tài chính đƣợc hiểu là vấn đề tự chủ của các đơn vị sự nghiệp công trong việc tạo ra và sử dụng nguồn tài chính có đƣợc trong quá trình hoạt động, tự chủ trong việc phân bổ nguồn tài chính cho mọi hoạt động của đơn vị. Tự chủ tài chính không đồng nghĩa với việc các đơn vị sự nghiệp công lập phải tự lo kinh phí hoạt động.
- Dịch vụ sự nghiệp công Là dịch vụ sự nghiệp trong các lĩnh vực giáo dục đào tạo; dạy nghề; y tế; văn hóa, thể thao và du lịch; thông tin truyền thông và báo chí; khoa học và công nghệ; sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác. - Dịch vụ sự nghiệp công sử dụng kinh phí ngân sách nhà nƣớc Là dịch vụ sự nghiệp công mà Nhà nƣớc bảo đảm toàn bộ chi phí hoặc dịch vụ sự nghiệp công chƣa tính đủ chi phí trong giá, phí, đƣợc ngân sách nhà nƣớc hỗ trợ. - Dịch vụ sự nghiệp công không sử dụng kinh phí ngân sách nhà nƣớc Là dịch vụ sự nghiệp công có điều kiện xã hội hóa cao, Nhà nƣớc không bao cấp, giá dịch vụ sự nghiệp công theo cơ chế thị trƣờng.